
Cua đồng là nhóm cua nước ngọt sống trong các thủy vực khác nhau ở Đồng bằng sông Cửu Long, có giá trị sinh thái và kinh tế cao. Tuy nhiên, việc phân loại nhóm cua này còn nhiều hạn chế, chưa thống nhất giữa các tác giả, gây khó khăn trong việc xác định đa dạng thành phần loài và vùng phân bố. Ngoài ra, chưa có thông tin quần xã cua đồng có bị ảnh hưởng bởi xâm nhập mặn hay không. Nghiên cứu này được thực hiện từ tháng 4/2024 đến tháng 3/2025 tại vùng nước ngọt Vĩnh Long - Cần Thơ và vùng bị nhiễm mặn Cà Mau, nhằm xác định thành phần loài, sự phân bố theo thủy vực, khả năng chịu mặn của chúng. Kết quả xác định 4 loài cua đồng: Sayamia germaini, Somanniathelphusa pax, Esanthelphusa dugasti, Somanniathelphusa sinensis. Tỷ lệ xuất hiện của các loài khác nhau ở mỗi thủy vực và mỗi địa phương. Sự đa dạng loài và số lượng cá thể cua đồng ở vùng nước ngọt cao hơn vùng bị nhiễm mặn. Loài S. sinensis chiếm 85% ở ruộng bị nhiễm mặn, chứng tỏ xâm nhập mặn tác động tiêu cực đến cua đồng.
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm mục đích khảo sát thành phần hóa học để tìm cơ sở đánh giá tiềm năng ứng dụng y học và đóng góp thông tin vào cơ sở dữ liệu hóa thực vật của loài Sắn thuyền. Từ lá và cành của mẫu cây, bốn hợp chất terpenoid đã được phân lập và xác định bằng phương pháp sắc ký và phổ hiện đại, bao gồm acid ursolic, acid asiatic, acid oleanolic và acid terminolic.
Công nghệ nano đang mở ra hướng đi chiến lược cho nông nghiệp hiện đại nhờ khả năng can thiệp ở cấp độ phân tử. Vật liệu nano có diện tích bề mặt lớn và tính phản ứng cao, ứng dụng hiệu quả trong nhiều khâu sản xuất. Cụ thể, phân bón nano cung cấp dinh dưỡng có kiểm soát, tăng hấp thu và giảm thất thoát khi bón vào đất. Thuốc trừ sâu nano như nano đồng, bạc giúp kiểm soát sâu bệnh hiệu quả, giảm độc hại và tồn dư trong sản phẩm nông nghiệp. Trong chăn nuôi, công nghệ nano được ứng dụng trong việc cải thiện chất lượng thức ăn, tăng hiệu quả kháng sinh và chế tạo các chế phẩm nano probiotic. Bao bì nano có tính kháng khuẩn, chống oxy hóa và giúp kéo dài thời gian sử dụng cho các sản phẩm nông nghiệp. Tuy nhiên, công nghệ nano còn tiềm ẩn nhiều rủi ro đối với hệ sinh thái môi trường nên cần có nhiều nghiên cứu sâu rộng hơn nữa để ứng dụng có hiệu quả công nghệ nano vào nông nghiệp bền vững và lâu dài.
Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá thành phần loài và sự biến động mật độ nguồn giống tôm theo mùa gió và tuyến khảo sát (bờ–lộng) ở vùng biển An Giang, dựa trên số liệu thu thập vào tháng 11, 12/2022 và 6, 8/2023. Kết quả ghi nhận 19 họ, 36 giống và 50 loài/nhóm loài, trong đó năm họ chiếm ưu thế gồm tôm he, tôm kính, tôm gai, tôm gõ mõ và tôm tít. Mật độ nguồn giống biến động rõ theo mùa, cao nhất trong mùa gió Đông Bắc (7.419 cá thể/1.000 m³), gấp hơn hai lần mùa gió Tây Nam (3.601). Riêng tuyến lộng mùa gió Đông Bắc (8.028) cao hơn khoảng 2,7 lần so với mùa gió Tây Nam (2.914). Phân bố không gian thể hiện nguồn giống tập trung chủ yếu ở vùng bờ phía Đông Nam Phú Quốc và vùng lộng Tây Nam Nam Du trong mùa gió Đông Bắc, thu hẹp dần vào dải ven bờ từ Rạch Giá đến Hòn Sơn trong mùa gió Tây Nam. Đây là cơ sở khoa học cho việc xác định vùng trọng điểm bảo vệ và phục hồi nguồn giống tôm.
Praxelis clematidea R. M. King & H. Robinson là một loài thực vật ngoại lai xâm lấn thường hay nhầm lẫn với cây Cỏ cứt lợn - Ageratum conyzoides L. Từ cao chiết ethanol của phần thân và lá của cây P. clematidea, 6 hợp chất đã được phân lập gồm precocene II (1), flavokawain A (2), apigenin (3), 5-hydroxy-7,4'-dimethoxyflavone (4), 5,7,4'-trimethoxyflavone (5), và 5,7,3',4'-tetramethoxyflavone (6). Cấu trúc của các hợp chất này được xác định bằng các dữ liệu phổ NMR, MS và so sánh với tài liệu tham khảo đã công bố. Trong đó, hợp chất flavokawain A lần đầu tiên được phân lập từ loài P. Clematidea.
Nghiên cứu được tiến hành nhằm nâng cao độ đồng đều của giống, cải thiện năng suất và đặc tính mềm cơm của giống Huyết Rồng đang canh tác. Thí nghiệm được bố trí ngoài đồng tại ấp Thái Quang xã Khánh Hưng, tỉnh Tây Ninh theo phương pháp tuần tự, phân tích các đặc tính nông học và chất lượng gạo trong phòng thí nghiệm. Phân tích DNA trên 784 dòng đã xác định được 600 dòng mang kiểu gen amylose thấp (băng PCR 235 bp). Các chỉ tiêu nông học chính được đánh giá gồm: thời gian sinh trưởng, chiều cao cây, chiều dài bông, số bông/m², số hạt chắc/bông, khối lượng 1.000 hạt và năng suất. Phân tích chất lượng gạo (gạo lức, gạo nguyên), amylose, protein và mùi thơm (KOH). Giống Huyết Rồng sau chọn lọc cải thiện rõ rệt về độ đồng đều, đặc tính mềm cơm (hàm lượng amylose giảm 11%) và năng suất tăng khoảng 30%. Giống Huyết Rồng có chiều cao trung bình 121,3 cm, khối lượng 1.000 hạt 25,6 g, năng suất 3,9 tấn/ha, tỷ lệ gạo nguyên 65,5%, dạng hạt dài (gạo lức 7,5 mm), hàm lượng amylose 17,3% và protein 8,8%.
Nắp ấm hoa đôi (Nepenthes mirabilis) là loài dược liệu với hoạt tính sinh học đa dạng, đặc biệt là tiềm năng kháng oxy hóa. Trong nghiên cứu này, phương pháp bề mặt đáp ứng (RSM) theo mô hình Box-Behnken (BBD) đã được áp dụng nhằm tối ưu hóa quy trình trích ly cao chiết giàu polyphenol và flavonoid có hoạt tính kháng oxy hóa. Kết quả nghiên cứu cho thấy, quy trình trích ly cao chiết với sự hỗ trợ của sóng siêu âm bằng dung môi ethanol sau hai lần chiết đã đạt được hiệu quả tối ưu. Cụ thể, tỷ lệ dung môi/bột dược liệu là 29,57 mL/g, nồng độ ethanol là 79,08%, nhiệt độ trích ly là 61,67℃ và thời gian trích ly là 29,49 phút. Kết quả thực nghiệm dưới với điều kiện này cho thấy, giá trị IC50 trung hòa gốc tự do DPPH là 24,12 ± 0,89 µg/mL, hàm lượng polyphenol và flavonoid lần lượt là 559,06 ± 2,43 mgGAE/g cao chiết và 611,73 ± 1,97 mgQE/g cao chiết.
Climate change is intensifying saltwater intrusion and freshwater scarcity in many regions, creating an urgent need for effective, sustainable desalination solutions. In this context, membrane distillation (MD) is regarded as a highly promising option for producing high-quality water at low cost by utilizing solar energy and waste heat. However, key challenges remain in selecting suitable MD membranes and establishing optimal operating parameters to simultaneously achieve high flux and stable salt rejection. Therefore, this study systematically investigates a direct contact membrane distillation (DCMD) system using a PVDF-MD membrane fabricated with isoamyl alcohol as the solvent, evaluating the effects of temperature difference, cross-flow velocity, feed salinity, and operating time. The results indicate optimal conditions of 70 °C (hot/feed) and 25 °C (cold/permeate) with a cross-flow velocity of 0.33 m/s, delivering a permeate flux of 20.5 LMH and salt rejection >99.9% while mitigating pore wetting. The membrane also operated stably with a high concentration of brine and, after 30 days of continuous treatment of real seawater, produced distillate meeting drinking-water standards.
Hỗn hợp hai chủng vi khuẩn là Pseudomonas sp. Pre2 (phân hủy pretilachlor) và Acinetobacter sp. F0 (phân hủy fenclorim) được khảo sát về hiệu quả phân hủy của chúng trong môi trường khoáng lỏng, nước thu về từ ruộng lúa và kênh rạch nhiễm mặn. Sự phân hủy pretilachlor và fenclorim bổ sung vào nước thu về từ ruộng lúa bởi vi khuẩn không cố định tương ứng là 61,9±4,8% và 50,9±6,6% sau 8 giờ, trong lúc sự phân hủy bởi vi khuẩn cố định tương ứng là 89,9±2,2% và 80,6±4,4%. Sự phân hủy còn được thực hiện trong hệ phân hủy đệm, giúp tăng cường hiệu quả của vi khuẩn. Ngoài ra, alginate được hút khô và bảo quản sau ba tháng vẫn có thể sử dụng hiệu quả để phân hủy cả hai hoạt chất.
Bài toán Fermat-Weber trên mặt cầu là một mở rộng tự nhiên của bài toán ấy trên mặt phẳng. Do tính phi tuyến và các tính chất hình học đặc biệt của không gian cầu, bài toán đã đặt ra nhiều thách thức trong việc tìm nghiệm tối ưu bằng các phương pháp truyền thống. Trong nghiên cứu này, một cách tiếp cận khác cho bài toán dựa trên thuật toán Tối ưu bầy đàn (Particle Swarm Optimization - PSO) được đề xuất. Thuật toán được thiết kế lại để bảo đảm các cá thể luôn di chuyển trên mặt cầu thông qua kỹ thuật đổi tọa độ.
Thuật toán phân tích chùm mờ cho dữ liệu ảnh được xây dựng với những giai đoạn chính sau: đầu tiên là việc trích xuất đặc trưng của ảnh bằng phương pháp học sâu Resnet50 với hai khối tích chập đầu tiên và quá trình gộp đặc trưng toàn cục. Các đặc trưng này sau đó được chuẩn hóa và ước lượng thành hàm mật độ xác suất đại diện. Tiếp theo là quá trình xác định số chùm thích hợp dựa vào hàm tự cập nhật chùm phù hợp. Cuối cùng là phương pháp xác định xác suất thuộc vào chùm của mỗi ảnh. Thuật toán đề nghị đã được trình bày chi tiết các bước thực hiện về lý thuyết và được minh họa trên tập ảnh cụ thể. Ứng dụng trên một tập ảnh cụ thể cũng cho thấy thuật toán đề nghị cho kết quả hợp lý và thuận lợi hơn một số thuật toán phổ biến khác qua các tham số đánh giá.
Mục tiêu của nghiên cứu này là xây dựng và tối ưu hóa quy trình chiết xuất carrageenan từ rong sụn Kappaphycus alvarezii bằng phương pháp chiết có hỗ trợ siêu âm (UAE). Ảnh hưởng của tỷ lệ nguyên liệu và dung môi (1:50, 1:100, 1:120 w/v), nhiệt độ chiết (40–80°C) và thời gian chiết (30, 45, 60 phút) được đánh giá thông qua hiệu suất thu nhận và phổ hồng ngoại biến đổi Fourier (FTIR). Kết quả cho thấy hiệu suất cao nhất (59,74 ± 8,15%) đạt được ở điều kiện 60°C, 30 phút với tỷ lệ 1:100 (w/v). Phân tích FTIR xác nhận đặc trưng cấu trúc của carrageenan, chứng minh rằng quy trình UAE tối ưu là phương pháp hiệu quả và phù hợp để thu nhận carrageenan với hiệu suất cao.
Hoạt tính kháng oxy hóa và cơ chế trung hòa gốc tự do HOO• của quercetin được nghiên cứu bằng lý thuyết phiếm hàm mật độ (DFT) ở mức lý thuyết B3LYP/6-311++G(d,p). Các phân tích orbital biên, kết hợp với tính toán tham số nhiệt động và động học phân tử cho thấy quercetin thể hiện hoạt tính kháng oxy hóa mạnh trong cả môi trường phân cực lẫn môi trường kém phân cực. Quá trình hình thành quinone bền thông qua phản ứng trung hòa gốc tự do theo cơ chế chuyển nguyên tử hydrogen (HAT) diễn ra theo hai bước. Bước đầu tiên là hình thành gốc tự do quercetin trung gian. Ở bước này, môi trường pentyl ethanoate diễn ra thuận lợi về cả mặt nhiệt động học lẫn động học hơn so với trong nước. Ngược lại, ở bước tách nguyên tử hydrogen lần thứ hai để tạo thành sản phẩm quinone, nước chiếm ưu thế hơn. So với cơ chế HAT, cơ chế chuyển điện tử đơn lẻ (SET) kém thuận lợi hơn về cả yếu tố nhiệt động học lẫn động học.
Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu tập trung phân tích hiệu quả tiếp nhận của công chúng đối với báo chí đồ họa (BCĐH), đặc biệt là các tác phẩm được đăng tải ở chuyên mục Giáo dục trên báo điện tử tại Việt Nam hiện nay. Trong bài báo này, chúng tôi đã tiến hành khảo sát thói quen tiêu thụ, nghiên cứu sự đánh giá của công chúng về ưu điểm và hạn chế của BCĐH ở chuyên mục này. Bên cạnh đó, việc tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả tiếp nhận của công chúng đối với BCĐH cũng đã được thực hiện, bao gồm: yếu tố của BCĐH, yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan. Ngoài ra, các biện pháp phù hợp cũng đã được đề xuất trong nghiên cứu nhằm giúp nâng cao chất lượng BCĐH, giúp thông tin được truyền tải hiệu quả, dễ tiếp cận hơn với nhiều đối tượng công chúng trong thời đại số.
Tác động của việc thay thế hoàn toàn dầu cá bằng dầu thực vật đến tăng trưởng, hiệu quả sử dụng thức ăn, thành phần acid béo và thành phần cơ thể cá dìa (Siganus guttatus) được đánh giá trong nghiên cứu. Cá giống (4,50 ± 0,14 g) được nuôi với mật độ 40 con/m³ trong chín bể xi măng 4 m³, bố trí theo thiết kế hoàn toàn ngẫu nhiên với ba nghiệm thức: dầu cá (ĐC), dầu đậu nành (ĐN) và dầu hướng dương (HD). Sau 60 ngày, cá ăn khẩu phần ĐC đạt tốc độ tăng trưởng, khối lượng cuối và sinh khối cao hơn đáng kể so với ĐN và HD (p < 0,05), đồng thời có hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR) thấp nhất. Thành phần hóa học (protein thô, chất khô, khoáng) không khác biệt giữa các nghiệm thức (p > 0,05). Hàm lượng acid béo không bão hòa đa (PUFA) cao nhất ở cá ăn ĐC, tiếp theo là HD và ĐN. Kết quả nghiên cứu cho thấy dầu cá là nguồn lipid phù hợp nhất cho S. guttatus; trong các nguồn lipid thay thế, dầu đậu nành và dầu hướng dương cho hiệu quả tương đương.
Mục tiêu của bài báo là nghiên cứu bước đi ngẫu nhiên với một lực ngoài tác động. Cụ thể, với xác suất chuyển trạng thái thỏa một số điều kiện cho trước, một dạng luật số lớn được chỉ ra trong mô hình đang xét. Đồng thời, các kết quả này cũng được mô phỏng thông qua ngôn ngữ lập trình Python.
Mô hình lập luận của Toulmin (TAM) đã được chứng minh là hiệu quả trong nhiều bối cảnh giáo dục quốc tế như một công cụ phân tích và hình thành lập luận. Một tổng quan phạm vi về ứng dụng TAM trong dạy học hình học trung học phổ thông tại Việt Nam giai đoạn 2010-2025 được thực hiện trong bài báo. Sơ đồ PRISMA 2020 và hướng dẫn PRISMA-ScR được sử dụng, 10 nghiên cứu đã được sàng lọc và phân tích theo các tiêu chí: năm xuất bản, loại hình học thuật, công cụ phân tích lập luận, nội dung hình học, phương pháp thực nghiệm, tích hợp công nghệ, công cụ đánh giá và kết quả chính. Kết quả cho thấy ba xu hướng nổi bật là sử dụng TAM phân tích quá trình chứng minh hình học, tích hợp TAM với công nghệ và ứng dụng trong môi trường tranh luận khoa học. Ngoài ra, các khoảng trống cần được tiếp tục nghiên cứu bao gồm: thiết kế bài dạy dựa trên TAM, thực nghiệm sư phạm có hệ thống, xây dựng công cụ đánh giá lập luận, tích hợp TAM với các phương pháp khác.
Trong bài nghiên cứu này, tác động của phong cách giảng dạy đến sự hài lòng của sinh viên học tiếng Trung được phân tích, trong đó nhấn mạnh vai trò trung gian của sự gắn kết học tập. Nghiên cứu được thực hiện dựa trên các cơ sở lý thuyết như Student Involvement (sự tham gia của sinh viên), Self-Regulated Learning (tự điều chỉnh học tập) và Teaching for Quality Learning (giảng dạy cho học tập chất lượng), đồng thời số liệu được thống kê theo hướng định lượng với mô hình Partial Least Squares – Structural Equation Modeling (PLS-SEM). Dữ liệu được thu thập từ 500 sinh viên ngành tiếng Trung của 3 trường đại học. Kết quả cho thấy Phong cách giảng dạy (Teaching Style -TS) tác động tích cực đến Gắn kết học tập (Engagement - ENG) làm ảnh hưởng tới Mức độ hài lòng trong học tập (Satisfaction - SAT), β_indirect = 0,35; t = 12,7; p < 0,001, điều này khẳng định vai trò then chốt của phương pháp giảng dạy trong việc định hình trải nghiệm học tập, đồng thời cho thấy khi sinh viên gắn kết nhiều hơn, tác động của phong cách giảng dạy đến sự hài lòng càng mạnh.