
Quan hệ đối tác chiến lược là một trong những hình thức hợp tác phổ biến trong quan hệ quốc tế, phản ánh xu hướng tăng cường liên kết giữa các quốc gia nhằm bảo đảm lợi ích và thích ứng với những biến động của môi trường quốc tế. Đây vẫn là một khái niệm có nội hàm chưa thống nhất và được tiếp cận khác nhau trong cả nghiên cứu học thuật lẫn thực tiễn chính sách đối ngoại. Bài viết làm rõ quá trình hình thành và phát triển của thuật ngữ “đối tác chiến lược”, phân tích cách tiếp cận của các trường phái lý thuyết quan hệ quốc tế, bao gồm chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa kiến tạo. Bài viết cũng tiếp cận thực tiễn triển khai quan hệ đối tác chiến lược của Việt Nam trong thời kỳ Đổi mới. Nghiên cứu khẳng định rằng quan hệ đối tác chiến lược góp phần nâng cao vị thế quốc gia và mở rộng không gian hợp tác của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
Nghiên cứu được thực hiện trên 378 học viên, đánh giá qua 07 hình thức tư vấn khác nhau bao gồm: qua Zalo, điện thoại, email, trực tiếp cho cá nhân tại đơn vị, trực tiếp cho nhóm tại đơn vị, thông qua các buổi học trên lớp, và trực tiếp tại phòng tư vấn tâm lý. Kết quả cho thấy học viên có nhu cầu tổng thể rất cao đối với việc hỗ trợ tâm lý, trong đó, hình thức tư vấn trực tiếp cho cá nhân tại đơn vị là phương thức được mong muốn nhất. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp đáp ứng nhu cầu về hình thức tư vấn tâm lý gồm: đa dạng hóa các hình thức tư vấn, lồng ghép hoạt động hỗ trợ vào các sinh hoạt tập thể và thành lập các phòng tư vấn tâm lý tạm thời với đội ngũ cán bộ, giảng viên giàu kinh nghiệm.
Thành công Đại hội XIV của Đảng, đã đề ra nhiều định hướng lớn, đưa ra các quyết sách đối với các vấn đề phát triển của đất nước ở những giai đoạn tiếp theo. Trên tinh thần đó, bài viết đưa ra một số nội dung Đại hội XIV của Đảng vào giảng dạy học cho sinh viên ở học phần Triết học Mác - lênin. Từ đó, làm nổi bật vấn đề giữa lý luận và thực tiễn được đề cập tại văn kiện: Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất; mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng; và vấn đề xây dựng con người Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới. Việc vận dụng những nội dung nêu trên vào giảng dạy góp phần giúp sinh viên hiểu biết sâu sắc hơn giá trị không chỉ ở mặt lý luận mà còn thể hiện ở thực tiễn, góp phần vào xây dựng đất nước ở "kỷ nguyên vươn mình của dân tộc".
This article examines digital technology (DT) application in teaching the Construction Materials (CM) course at The University of Danang - University of Technology and Education (UD-UTE). A flipped classroom (FC) model was deployed on a Moodle Learning Management System (LMS), integrating digital tools (DT) like Gemini and NotebookLM to design instructional materials (IM) and establish a digital pedagogical (DP) space. By analyzing LMS data through correlation matrices and heatmaps, instructors evaluated students' self-regulated learning (SRL) to implement early warning systems. Results showed significant performance improvements over traditional methods, achieving a 93% pass rate (up from 75%) and a 6.52 average score (up from 5.5). However, surveys revealed first-year students' psychological barriers and a preference for traditional classrooms. The study recommends strengthening SRL, optimizing assessment alignment to reduce cognitive overload, and balancing face-to-face interaction with technology.
This paper studies the use of Modal operators - will/would, can/could, and may/might in UK disaster journalism. Analyzing 70 texts from seven major news outlets, the study explores how these modals function semantically and pragmatically. Findings show that will/would expresses future predictions with varying levels of engagement, can/could balances natural possibility with journalistic judgment, and may/might signals degrees of likelihood-with might specifically acting as a mitigating tool in relief contexts. Quantitatively, modal auxiliaries dominate the corpus at 63.6%, while deontic modality accounts for 25.9%. Ultimately, the research highlights how the presence or absence of modality fundamentally shapes the articulation of disaster news.
Năng lực phản biện trên không gian mạng là năng lực cần thiết của giảng viên ở các học viện, trường sĩ quan quân đội trong bối cảnh chuyển đổi số và yêu cầu bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng. Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu lý luận nhằm nhận diện các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến năng lực này. Kết quả nghiên cứu xác định năm nhóm yếu tố cơ bản: sự phát triển của công nghệ số, nền tảng số và trí tuệ nhân tạo; sự đa dạng, phức tạp của đối tượng phản biện; cơ chế, chính sách quản lý thông tin trên không gian mạng; nguồn lực hỗ trợ và điều kiện hạ tầng kỹ thuật; đặc điểm của môi trường thông tin trên không gian mạng. Kết quả nghiên cứu góp phần bổ sung cơ sở khoa học cho việc xây dựng môi trường, cơ chế và điều kiện bảo đảm phát triển năng lực phản biện trên không gian mạng cho giảng viên ở các học viện, trường sĩ quan quân đội hiện nay.
Nhân vật Little Dog trong tiểu thuyết Một thoáng ta rực rỡ ở nhân gian của nhà văn Ocean Vuong là một nhân vật có sự giao thoa bản dạng đặc biệt, đan cài giữa màu da và quốc tịch Việt - Mỹ, văn hoá phương Đông - phương Tây và về giới tính. Để đọc được câu chuyện về bản dạng ấy, bài báo vận dụng lý thuyết queer kết hợp với tự sự học và liên văn bản nhằm khám phá sự lệch pha của nhân vật mà không quy kết vào sự dị biệt. Nghiên cứu chỉ ra rằng chính sự bất định trong căn tính của nhân vật đã bẻ gãy dòng thời gian tuyến tính thông thường, đòi hỏi nhà văn kiến tạo một dòng thời gian nghệ thuật riêng biệt. Đó là thời gian queer - dòng thời gian cho phép thời gian đồng hiện, phi tuyến và tập trung vào khoảnh khắc của những cảm giác, trải nghiệm. Từ đó, nhân vật Little Dog không còn chịu sự bó buộc của xã hội dị tính dòng chính, nắm quyền tự sự theo cách của riêng mình.
Grounded in self-congruity theory, this study examines how Big-Five personality traits influence self-brand connection (SBC) and subsequent green brand loyalty (GBL) within Grab’s voluntary carbon offset initiative in Vietnam. Grab is examined as a service brand adopting an environmental program rather than an inherently green brand. Survey data from 309 Grab users were analyzed using partial least squares structural equation modeling (PLS-SEM) in WarpPLS. The results reveal that extraversion, agreeableness, and openness to experience positively relate to SBC, whereas neuroticism has a significant negative relationship; conscientiousness shows no significant effect. Furthermore, SBC strongly predicts GBL. By elucidating self-congruity in a voluntary carbon offset context, this research advances understanding of personality-driven, pro-environmental consumer behavior and offers practical implications for targeted green marketing.
Tích hợp chuỗi cung ứng xanh (GSCI) ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo lợi thế cạnh tranh và thúc đẩy phát triển bền vững. Nghiên cứu này dựa trên phương pháp phân tích trắc lượng thư mục với sự hỗ trợ của phần mềm VOSviewer kết hợp với phân tích nội dung để nhận diện xu hướng nghiên cứu, cấu trúc tri thức và các chủ đề trọng tâm trong lĩnh vực GSCI. Dữ liệu Scopus giai đoạn 2014-2024 được phân tích thông qua các chỉ số trích dẫn, đồng xuất hiện từ khóa và mạng lưới đồng tác giả, qua đó cung cấp bức tranh tổng quát về nghiên cứu GSCI. Phân tích nội dung của 46 bài báo tiêu biểu cho thấy các yếu tố tiền đề của GSCI xuất phát từ ba nhóm chính: yếu tố bên ngoài, yêu cầu của doanh nghiệp và nguồn lực, năng lực nội tại. Đồng thời, việc thực thi GSCI mang lại kết quả tích cực đối với đổi mới xanh, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, qua đó phác họa bức tranh toàn diện về cơ chế hình thành và hệ quả của GSCI.
Although the role of formal institutions in shaping national innovation capacity is widely recognized, existing findings on the role of informal institutions, remain inconclusive. Family ties may represent an important informal institution associated with national innovation capacity because they may influence innovation through three key mechanisms: openness to external knowledge and collaboration, attitudes toward risk-taking, and the meritocratic allocation of resources. Using the Economic Complexity Index (ECI) as a structural proxy for innovation-related productive capabilities, this study examines the relationship between family ties and national innovation capacity across countries. The results show that family ties are negatively associated with national innovation capacity. This study contributes to the literature by identifying family ties as a country-level factor linked to innovation capacity. It also distinguishes bonding social capital (family ties) from broader bridging social capital, and highlights the usefulness of ECI in capturing productive capabilities that underpin national innovation capacity.
This study examines the relationship between tourism development and per capita income in five provinces of Vietnam’s South Central Coast during 2010–2024. Tourism is decomposed into a volume channel (tourist arrivals per 1,000 residents) and a value channel (real tourism revenue per visitor). A Panel ARDL/ECM model is estimated using PMG as the benchmark, with MG and DCCE as robustness checks. PMG results indicate positive long-run associations for both tourism channels and institutional quality. However, MG results show greater stability for the volume channel, while DCCE estimates weaken the tourism coefficients, particularly for the value channel, after common factors are controlled for. The tourism–income relationship is therefore conditional rather than universal. Given the small panel, the findings should be interpreted as cautious regional evidence.
This qualitative study examines how Vietnamese undergraduates perceive and negotiate lecturers’ academic authority in English-medium instruction (EMI) classrooms. Guided by Bourdieu’s theory of symbolic capital and Language Ideology, semi-structured interviews with 18 students were analysed thematically. Findings reveal a three-stage process. Students initially associated authority with English proficiency, overseas qualifications, and native-speaker identity. They then reassessed lecturers through pedagogical competence and classroom interaction, ultimately understanding authority as relational and grounded in trust, accessibility, and meaningful learning support. These findings show that academic authority in EMI is negotiated rather than predetermined, with implications for teacher development and quality assurance in Vietnamese higher education.
Chương trình giáo dục phổ thông môn Khoa học tự nhiên (KHTN) định hướng về phương pháp hình thành, phát triển năng lực KHTN, giáo viên được khuyến khích triển khai giáo dục STEM nhằm phát triển năng lực tổng hợp và vận dụng kiến thức, kỹ năng trong các lĩnh vực KHTN, công nghệ, kỹ thuật và toán học của học sinh để giải quyết những thách thức trong thực tiễn. Trong bài báo này, chúng tôi đề xuất xây dựng tiến trình dạy học chủ đề STEM “Xử lí đất chua” theo 5 hoạt động và tổ chức thực nghiệm sư phạm trong dạy học môn KHTN 8 tại 2 trường trung học cơ sở. Kết quả cho thấy, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo của học sinh có sự cải thiện đáng kể. Như vậy, việc áp dụng dạy học chủ đề STEM “Xử lí đất chua” đã góp phần bồi dưỡng năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh và có thể sử dụng trong thực tiễn giáo dục KHTN ở trường trung học cơ sở.
This study develops a model to examine the relationships among perceived empowerment (PE), emotional solidarity (ES), quality of life (QOL), and support for sustainable tourism development (SSTD). The research investigates the mediator of QOL and moderator roles of TD in the links between PE, ES, QOL and SSTD. Data were collected through direct surveys using paper questionnaires from local residents in Da Nang City, Vietnam. As a result, a total of 593 valid responses were analyzed using PLS-SEM to test the proposed model and hypotheses. The results indicate that (i) factors significantly influence QOL include psychological empowerment, social empowerment, economic empowerment, emotional closeness and sympathetic understanding, (ii) politial empowerment, environmental empowerment, emotional closeness, sympathetic understanding and QOL positively influence SSTD. The results provide valuable theoretical insights and practical policy recommendations.
With the increasing importance of English proficiency in globalized education and professional contexts, universities in Vietnam are seeking innovative instructional approaches. Prepositions, as an essential component of English grammar, have traditionally posed challenges for first-year students. This study investigates the application of Information Technology (IT) in teaching English prepositions at Electric Power University (EPU), Vietnam. Using mixed methods - surveys and tests for students, interviews and questionnaires for teachers, classroom observation, and performance analytics - the research identifies current practices, key challenges, and actionable solutions. Findings show positive student attitudes and statistically significant learning gains when IT tools are integrated, yet highlight gaps in teacher training, infrastructure, and pedagogical design. Based on the evidence, the study provides targeted recommendations for sustainable IT integration tailored to the EPU context.
Cosmetics advertisements use language strategically to inform and persuade consumers. Drawing on Roman Jakobson’s model of communicative functions, this study examines the referential function in 134 English-language cosmetics advertisements from L’Oréal Paris, Estée Lauder, Olay, and Shiseido, collected from official brand websites and product packaging. Using qualitative content analysis supported by quantitative frequency counts, the study investigates how referential language presents ingredients, technological features, and product-related claims. The findings show that the referential function is mainly realized through ingredient descriptions, scientific claims, and product-effect statements. These features contribute to product credibility and create an appearance of objectivity. The study concludes that referential language in cosmetics advertising functions as an informational-persuasive hybrid, presenting product claims as information while simultaneously supporting persuasive purposes.
This study adopts quantitative and qualitative approaches to investigate the students’ self-perceived entrepreneurial competencies (EC) of English majors at the University of Danang – University of Foreign Language Studies (UD-UFLS). Using an adapted version of the Comprehensive Entrepreneurship Competence Model (CECM), students' self-evaluations were recorded through 200 questionnaires and 10 semi-structured interviews. Furthermore, the study includes a course analysis across 40 subjects. The evaluation covered ten distinct sub-competencies, including metacognition, emotion regulation, problem-solving, creativity, ethical & sustainable thinking, personal initiatives, communication, discovering & exploiting opportunities, understanding the environment and financial literacy. The results reveal that students report highly positive in cognitive and social competencies, but lack confidence in strategic business competencies. Students cite limited practical experience, rigid assessments, and heavy workloads as their primary developmental barriers. Consequently, the study proposes six solutions for improving EC at UD-UFLS.
Trong bối cảnh chuyển đổi số giáo dục, sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang thách thức liêm chính học thuật và tư duy độc lập của người học. Bài báo hệ thống hóa cơ sở lí luận về năng lực sử dụng trí tuệ nhân tạo, đạo đức số và liêm chính học thuật, từ đó đề xuất Khung năng lực sử dụng AI có trách nhiệm cho học sinh trung học phổ thông trong dạy học viết văn nghị luận xã hội. Cấu trúc năng lực gồm bốn thành tố cốt lõi: Minh bạch; Kiểm soát giới hạn; Đối chiếu và kiểm chứng; Bảo toàn và phản biện đầu ra. Nhằm đảm bảo tính thực tiễn và pháp lí, khung này được đối chiếu tương thích với Khung năng lực số dành cho người học theo Thông tư 02/2025/TT-BGDĐT. Kết quả nghiên cứu cung cấp hệ thống chỉ báo hành vi và định hướng sư phạm giúp giáo viên tích hợp AI như một “người cộng sự” hỗ trợ phát triển tư duy, bảo vệ vai trò chủ thể và giá trị nhân văn của học sinh trong hoạt động tạo lập văn bản.
Bài báo tập trung xây dựng khung ma trận tích hợp năng lực số trong dạy học môn Ngữ văn ở cấp trung học phổ thông. Trong bối cảnh chuyển đổi số giáo dục, năng lực số không chỉ là kĩ năng sử dụng công nghệ mà còn là năng lực học tập thiết yếu, gắn với hoạt động đọc, viết, nói và nghe của học sinh. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu và đối chiếu giữa yêu cầu cần đạt của Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 với các thành tố của Khung năng lực số Việt Nam 2025. Trên cơ sở đó, bài báo đề xuất một khung ma trận tích hợp nhằm hệ thống hóa các chỉ báo hành vi năng lực số trong dạy học Ngữ văn. Kết quả nghiên cứu góp phần cung cấp công cụ hỗ trợ giáo viên thiết kế hoạt động dạy học, xây dựng tiêu chí đánh giá và tổ chức kiểm tra theo định hướng phát triển năng lực trong môi trường số.
Bài báo nghiên cứu quan hệ hợp tác Việt Nam - Trung Quốc trong đào tạo tiếng Việt và văn hoá Việt Nam giai đoạn 2010-2025 thông qua trường hợp Trường Đại học Sư phạm Vân Nam (YNU), Trung Quốc. Bằng phương pháp nghiên cứu trường hợp, kết hợp với phương pháp lịch sử và logic, bài viết tập trung làm rõ quá trình phát triển, nội dung hợp tác, kết quả đạt được và những đặc điểm nổi bật trong quan hệ giữa YNU với các trường đại học tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, từ năm 2010 đến năm 2025, quan hệ hợp tác này từng bước được mở rộng cả về quy mô lẫn chiều sâu, góp phần thúc đẩy đào tạo tiếng Việt, nâng cao hiểu biết về văn hoá Việt Nam tại Trung Quốc đồng thời tăng cường kết nối học thuật và giao lưu giáo dục giữa các cơ sở giáo dục đại học hai nước. Trên cơ sở đó, bài báo bước đầu nhận diện một số đặc điểm, ý nghĩa của mô hình hợp tác này trong bối cảnh quan hệ Việt - Trung.