Physical activity (PA) has numerous benefits for heart failure (HF) patients; however, adherence to recommended activity levels remains limited. The engagement in PA may increase with structured exercise programs. This systematic review and meta-analysis aimed to evaluate the effectiveness of exercise-based interventions on PA and related outcomes in patients with HF. A systematic search was conducted across six electronic databases (PubMed, Scopus, Cochrane Library, ScienceDirect, ProQuest, and CINAHL) to identify randomized-controlled trials (RCTs) published in English between 2014 and 2026. Eligible studies were selected according to PICO criteria, and risk of bias was assessed using the ROB-2 Assessment Tool. Jamovi software version 2.3.28 was used to conduct meta-analysis. The random-effects model was used to analyze the pooled standardized mean difference (SMD). Eight RCTs met the inclusion criteria for this study. Findings showed that exercise-based interventions investigated a range of outcomes such as PA, functional ability, and quality of life. PA was measured by both objective devices (accelerometers and pedometers) and a validated self-report tool (e.g., International Physical Activity Questionnaire). Meta-analysis demonstrated that exercise-based interventions had a nonsignificant effect on PA (SMD = 0.82; 95
Mục tiêu: Xây dựng quy trình phân tích kiểu gen của đa hình đơn nucleotide LPL rs320 (SNP LPL rs320) bằng phương pháp mồi đặc hiệu alen (AS-PCR) trên các mẫu ADN được tách từ máu toàn phần ở người trưởng thành từ 40-64 tuổi.Đối tượng và phương pháp: Phân tích kiểu gen của SNP LPL rs320 trên 80 mẫu ADN của người Việt Nam bằng phương pháp AS-PCR, trong đó có sử dụng phần mềm để thiết kế mồi đặc hiệu alen và thực hiện các kĩ thuật sinh học phân tử để tối ưu hoá các cặp mồi, chu trình nhiệt của các phản ứng. Phương pháp giải trình tự Sanger được lựa chọn để xác định kiểu gen chuẩn của đa hình đơn nucleotide này.Kết quả: Quy trình phân tích kiểu gen gồm các cặp mồi, thành phần phản ứng và chu trình nhiệt cho phản ứng nhân gen của SNP LPL rs320 bằng phương pháp AS-PCR được xây dựng và tối ưu trên các mẫu ADN người trưởng thành. Kết luận: Quy trình AS-PCR để phân tích SNP LPL rs320 có độ chính xác cao, cho kết quả nhanh và có thể lặp lại trên quần thể mẫu lớn cũng như ở các quần thể khác nhau nhằm tiến tới thực hiện nghiên cứu mối liên quan của đa hình này với bệnh rối loạn lipid máu và một số bệnh khác ở người Việt Nam.
Mục tiêu: Xác định các nhu cầu chăm sóc tinh thần (NCCSTT) của người bệnh sau phẫu thuật tuyến giáp và tìm hiểu một số yếu tố liên quan tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương năm 2025. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang, được thực hiện trên 216 người bệnh sau phẫu thuật tuyến giáp, kết hợp nghiên cứu định tính trên 8 người bệnh có nhu cầu chăm sóc tinh thần. Dữ liệu được thu thập từ tháng 4 đến tháng 6 năm 2025 sử dụng thang đo nhu cầu chăm sóc tinh thần tự thiết kế và phỏng vấn sâu có cấu trúc. Kết quả: Nhu cầu chăm sóc tinh thần ở người bệnh sau phẫu thuật tuyến giáp được ghi nhận ở mức khá cao, với nhu cầu được hướng dẫn, giải thích để giảm lo lắng trước khi thực hiện các kỹ thuật chiếm tỷ lệ cao nhất (79,2%), tiếp đến là nhu cầu hỗ trợ để có giấc ngủ ngon (77,3%). Kết quả phân tích hồi quy logistic cho thấy đối tượng có trình độ học vấn cao (p=0,001) và giai đoạn bệnh nặng hơn (p=0,03) có nhu cầu chăm sóc tinh thần cao hơn. Kết quả phỏng vấn sâu đã tìm thấy ba chủ đề chính: nhu cầu được giải tỏa lo âu, nhu cầu được lắng nghe và chia sẻ, và nhu cầu được khích lệ tinh thần. Kết luận: Kết quả về mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa NCCSTT với trình độ học vấn và giai đoạn bệnh nhấn mạnh sự cần thiết của việc cá thể hóa chăm sóc. Các cơ sở y tế nên tăng cường đào tạo cho đội ngũ nhân viên y tế về kỹ năng giao tiếp và đồng cảm, đồng thời điều dưỡng viên cần tích hợp các can thiệp hỗ trợ tâm lý vào quy trình chăm sóc toàn diện, để cải thiện chất lượng sống và hiệu quả điều trị cho người bệnh.
Mục tiêu: Đánh giá sự thay đổi kiến thức về phục hồi chức năng (PHCN) vận động của người chăm sóc chính (NCSC) người bệnh đột quỵ tại Bệnh viện Y học cổ truyền Hòa Bình năm 2025. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu can thiệp trước–sau trên 64 NCSC của người bệnh đột quỵ có liệt nửa người, điều trị từ 5/2025–10/2025. Kiến thức PHCN được đánh giá bằng bộ công cụ xây dựng dựa trên hướng dẫn của Bộ Y tế. Kết quả: Sau can thiệp, kiến thức của NCSC cải thiện rõ rệt. Tỷ lệ trả lời đúng về thời điểm bắt đầu PHCN tăng từ 35,9% lên 84,4%; số lần tập đúng từ 17,2% lên 79,7%; và luôn quan sát người bệnh khi tập từ 26,6% lên 71,9%. Kiến thức về tư thế PHCN cũng cải thiện: trả lời đúng ≥2 tư thế tăng từ 62,5% lên 75,0%; xác định đúng tư thế tốt nhất từ 10,9% lên 48,4%; và trả lời đúng ≥3 mục đích của tư thế từ 3,1% lên 60,9%. Điểm trung bình kiến thức tăng từ 5,8 ± 2,5 lên 10,6 ± 1,8 (p < 0,0001). Kết luận: Can thiệp giúp cải thiện đáng kể kiến thức của NCSC về PHCN vận động cho người bệnh đột quỵ. Cần tăng cường tập huấn và truyền thông nhằm nâng cao kiến thức và kỹ năng chăm sóc, góp phần cải thiện hiệu quả phục hồi cho người bệnh.
Mục tiêu: Đánh giá kết quả chăm sóc vết mổ cấy máy tạo nhịp vĩnh viễn ở người bệnh dùng thuốc chống đông với gạc Aquacel và DuoDerm tại Viện Tim mạch, Bệnh viện Bạch Mai. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Người bệnh đã được tiến hành cấy máy tạo nhịp vĩnh viễn có sử dụng thuốc chống đông và sau cấy được sử dụng gạc Aquacel và DuoDerm tại Viện Tim mạch- Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 6/2021 đến 10/2021. Kết quả: Đến ngày thứ 7 sau thủ thuật, tình trạng đau của người bệnh cải thiện rõ rêt với 61,5% chỉ còn đau ít và 38,5% không còn đau theo thang điểm VAS. Dịch rỉ vết mổ chủ yếu ở mức vừa (84,6%), 100% là dịch huyết thanh, không ghi nhận máu, mủ hay mùi bất thường. 100% người bệnh đạt mức liền thương ≥ 90%, mép vết thương màu hồng, khép kín và không có bất thường về nhiệt độ da. Một số phản ứng dị ứng nhẹ với băng gạc được ghi nhận như ngứa, đỏ da, sẩn và mụn nước, không có trường hợp phù nề. 59,6% người bệnh còn khó khăn khi vận động, trong khi tỷ lệ không hài lòng với gạc Aquacel và Duoderm chỉ 5,8%. Kết luận: Chăm sóc vết mổ cấy máy tạo nhịp vĩnh viễn bằng gạc Aquacel và Duoderm cho thấy hiệu quả tốt, giúp giảm đau rõ rệt, kiểm soát dịch rỉ và thúc đẩy quá trình liền thương vào ngày thứ 7 sau thủ thuật. Các phản ứng dị ứng chủ yếu ở mức độ nhẹ, không ghi nhận biến chứng nhiễm trùng hay phù nề vết mổ. Phần lớn người bệnh hài lòng với phương pháp chăm sóc, cho thấy tính an toàn và khả năng áp dụng trong thực hành điều dưỡng lâm sàng.