
Năm giống cỏ hòa thảo gồm Ruzi, Mulato II, Purple, Mombasa và Mun River nhập từ Thái Lan được trồng tại thành phố Huế nhằm đánh giá khả năng sinh trưởng và năng suất sinh khối qua nhiều lứa thu cắt trong năm. Thí nghiệm được bố trí theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên (Randomized Complete Block Design-RCBD) với bốn lần lặp lại cho mỗi giống. Lứa cắt đầu tiên được thực hiện sau 105 ngày trồng; tám lứa tái sinh tiếp theo được thu cắt cách nhau 45 ngày. Kết quả theo dõi từ tháng 9/2022 đến tháng 12/2023 cho thấy có sự khác biệt rõ rệt về sinh trưởng và năng suất sinh khối giữa các giống (p < 0,05). Purple, Mombasa và Mun River có chiều cao cây lớn hơn Ruzi và Mulato II, trong khi Ruzi và Mulato II có số lá và số nhánh nhiều hơn (p < 0,05). Năng suất sinh khối của Mombasa, Mun River và Purple cao hơn đáng kể so với Mulato II và Ruzi (p < 0,05). Sinh trưởng và năng suất đạt mức cao nhất trong mùa khô (tháng 3–9) và giảm rõ rệt trong mùa mưa (tháng 10–2 năm sau). Thành phần dinh dưỡng theo vật chất khô của các giống dao động: protein thô (CP) 6,97–10,53%; xơ trung tính (NDF) 68,58–73,44%; xơ axit (ADF) 34,69–43,63%; và lignin tẩy rửa axit (ADL) 9,50–12,61%.
Nghiên cứu này được thực hiện tại khu vực đồi núi thuộc huyện Phú Lộc (cũ), Thành phố Huế nhằm xác định mức độ xói mòn đất tiềm năng và nhận thức của người dân về hiện tượng xói mòn đất. Kết quả nghiên cứu cho thấy biến động xói mòn tiềm năng trong khu vực chịu chi phối mạnh yếu tố phương thức canh tác, hệ số P, trong khi dữ liệu phỏng vấn 40 hộ cho thấy khác biệt về khả năng nhận diện xói mòn giữa người Kinh và người Cơ Tu; trong đó hiện tượng nhầm lẫn xói mòn với sạt lở thường xuyên xảy ra. Nghiên cứu cũng cho thấy có sự khác biệt về nhận thức đối với nguyên nhân xói mòn theo giới cũng như hậu quả của xói mòn đất. Nghiên cứu đề xuất các hoạt động giảm xói mòn nên gắn với việc tăng cường độ che phủ, kết hợp với truyền thông tại cộng đồng, ưu tiên cách diễn đạt dễ tiếp cận và minh họa thực địa để người dân phân biệt rõ các quá trình và lựa chọn biện pháp phù hợp.
Nghiên cứu này phân tích các rào cản trong tiếp cận và sử dụng đất đai của thanh niên nông thôn miền núi Việt Nam thông qua phỏng vấn 100 thanh niên, tổ chức 2 cuộc thảo luận nhóm,, và phỏng vấn 8 người am hiểu tại xã Long Quảng, thành phố Huế. Kết quả cho thấy thanh niên đang đối mặt nhiều khó khăn trong tiếp cận đất đai, đặc biệt là hạn chế về tài chính, tình trạng đất đai manh mún và nhận thức còn hạn chế về sự tham gia vào chính sách đất đai ở cấp cơ sở. Mặc dù thanh niên nhận thức được tầm quan trọng của pháp luật và đánh giá tích cực các cải cách hành chính gần đây, phản ánh nỗ lực truyền thông pháp luật của Nhà nước, nhưng phần lớn thanh niên vẫn thờ ơ hoặc không quan tâm, dẫn đến khoảng cách giữa chính sách và nhu cầu thực tiễn, làm suy giảm tiếng nói của thế hệ trẻ trong quản trị đất đai. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất nhóm giải pháp: (i) Mở rộng tín dụng và nền tảng hỗ trợ khởi nghiệp; (ii) Tăng cường vai trò thanh niên trong lập kế hoạch và quản lý tài nguyên; (iii) Thúc đẩy truyền thông pháp luật đất đai gắn với công nghệ số; và (iv) Xây dựng hệ thống hành chính minh bạch, thân thiện và dễ tiếp cận hơn với thanh niên.
Nghiên cứu này thực hiện nhằm tìm hiểu thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong sản xuất rau má an toàn của nông hộ. Thông tin nghiên cứu được thu thập từ phỏng vấn 60 hộ trồng rau má an toàn, phỏng vấn sâu người am hiểu và thảo luận nhóm. Nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê mô tả để đánh giá mức độ sử dụng các phương tiện công nghệ thông tin, hiệu quả sử dụng, sự sẵn sàng chi trả của nông hộ và các rào cản. Nghiên cứu cho thấy rằng điện thoại thông minh là phương tiện công nghệ thông tin phổ biến và hiệu quả trong thúc đẩy hộ tiếp cận các dịch vụ nông nghiệp số. Trao đổi thông tin qua tin nhắn, gọi điện qua sim và zalo là các dịch vụ được nông hộ đánh giá rất hiệu quả trong hoạt động sản xuất rau má an toàn. Kết quả khảo sát cũng cho thấy rằng nông hộ sợ rủi ro, khó khăn trong đọc, viết tin nhắn và sử dụng các tiện ích (Apps) là các rào cản chính. Trên cơ sở đó nghiên cứu đã đưa ra các khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận và sử dụng công nghệ thông tin trong bối cảnh nền kinh tế bước vào kỷ nguyên số.
Nghiên cứu này đi sâu vào tìm hiểu cách người dân địa phương tham gia vào việc phát triển du lịch bền vững ở khu vực đầm phá ven biển thuộc Thành phố Huế thông qua khảo sát 315 hộ gia đình và phỏng vấn các chuyên gia để làm rõ vai trò, mức độ đóng góp của người dân cũng như những lợi ích và thách thức mà họ phải đối mặt. Kết quả cho thấy 49,84% hộ tham gia ở mức độ cơ bản, chủ yếu là hỗ trợ cung cấp sản phẩm và dịch vụ. Tuy nhiên, mô hình du lịch cộng đồng đã mang lại nhiều lợi ích đáng kể như giúp người dân tăng thu nhập, cải thiện cơ sở hạ tầng và tạo thêm việc làm, góp phần bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống và nâng cao ý thức bảo vệ môi trường. Điều đặc biệt là cộng đồng đã thể hiện khả năng phục hồi tốt trước những khó khăn như đại dịch COVID-19. Nhiều hộ gia đình đã nhanh chóng vượt qua cú sốc và phát triển mạnh mẽ hơn. Từ những phát hiện này, nghiên cứu đề xuất các nhóm giải pháp để du lịch cộng đồng phát triển bền vững hơn: tăng cường năng lực cho người dân, phát triển thêm các sản phẩm du lịch đa dạng và hoàn thiện chính sách để khuyến khích sự tham gia tích cực của người dân địa phương.
Nghiên cứu này được thực hiện tại 8 xã khu vực miền núi thành phố Huế sau khi sáp nhập đơn vị hành chính 2 cấp với mục tiêu đánh giá mức độ chồng lấn giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch lâm nghiệp trong giai đoạn 2021 – 2030. Trên cơ sở thu thập dữ liệu quy hoạch, ứng công nghệ GIS để chồng xếp bản đồ, kết hợp tham vấn chuyên gia, kết quả cho thấy tổng diện tích chồng lấn đạt 18.850,23 ha, chiếm 10,29% diện tích nghiên cứu; diện tích trùng khớp đạt 156.946,95 ha (85,63%); trong khi diện tích khác biệt ranh giới hành chính là 7.479,87 ha (4,08%). Các xã A Lưới 4, A Lưới 1 và A Lưới 5 là nơi có diện tích chồng lấn lớn nhất, phản ánh đặc thù địa hình và ranh giới phức tạp. Nguyên nhân chồng lấn được xác định gồm: sai khác về ranh giới hành chính, sự khác biệt mục tiêu và thời điểm lập quy hoạch, hạn chế trong cơ sở dữ liệu – phương pháp lập bản đồ, và tác động từ quá trình điều chỉnh quy hoạch.
Mục đích của nghiên cứu này là phân tích tác động của hệ thống chính sách pháp luật đất đai đến việc giao đất cho hộ gia đình, cá nhân tại huyện An Lão, tỉnh Bình Định. Trong giai đoạn 2019–2023, địa phương đã giao 3.304 thửa đất với tổng diện tích 1.352,14 ha cho 3.036 hộ có nhu cầu sử dụng đất hợp pháp. Dữ liệu khảo sát 136 hộ dân được phân tích bằng mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) cho thấy chính sách pháp luật đất đai có tác động tích cực, cùng chiều đến việc giao đất, thể hiện qua hệ số đường dẫn β = 0,551, TLPL → LA = 8.728 và R² = 0,303. Các thang đo đạt giá trị hội tụ và giá trị phân biệt tốt, với hệ số tải ngoài từ 0,703–0,830. Giá trị trung bình các tiêu chí đánh giá về chính sách pháp luật đất đai dao động từ 3,76–3,99, cho thấy chính sách pháp luật đất đai được đánh giá tích cực về tính rõ ràng, khả thi, hiệu quả, công bằng và chấp nhận xã hội. Nghiên cứu khẳng định chính sách pháp luật đất đai có tác động tích cực trong nâng cao hiệu quả giao đất, đồng thời khuyến nghị điều chỉnh thể chế và tổ chức thực hiện phù hợp với bối cảnh hành chính mới.
Nghiên cứu đã cung cấp đặc điểm hình thái ngoài, chỉ số sinh trắc của cá Tráp vây vàng Acanthopagrus latus ở khu vực ven cửa biển Thuận An thuộc phá Tam Giang, thành phố Huế. Kết quả phân tích 45 mẫu cá Tráp vây vàng về mặt hình thái cho thấy, cá có thân thon dài, dẹp hai bên, đường bên có 44 vảy và không có sự biến động về số lượng vảy, số hàng vảy trên đường bên tại vị trí gai vây lưng thứ 5 là 3,5 hàng. Các tia vây như: vây ngực, vây hậu môn và phần dưới vây đuôi có màu vàng. Chiều dài thân và khối lượng cá Tráp vây vàng có mối tương quan dương thể hiện mối tương quan tuyến tính trung bình (R2 = 0,3973).
Nghiên cứu đã tiến hành điều tra 180 nông hộ trồng đậu đen xanh lòng tại ba huyện thuộc tỉnh Quảng Trị nhằm đánh giá được tình hình sản xuất, thu nhập và tiêu thụ đậu đen xanh lòng trên địa bàn nghiên cứu để xây dựng cơ sở dữ liệu khoa học và thực tiễn phát triển đối tượng cây trồng này hiệu quả hơn. Mẫu phiếu điều tra về sản xuất, thu nhập và tiêu thụ đậu đen xanh lòng được nhóm nghiên cứu thiết kế sẵn. Sau đó, thực hiện điều tra bằng phương pháp thu thập số liệu thứ cấp và sơ cấp. Sử dụng phương pháp tham vấn để phỏng vấn sâu cán bộ chuyên môn có am hiểu và kinh nghiệm trong lĩnh vực nghiên cứu. Kết quả điều tra cho thấy diện tích, năng suất và sản lượng trồng đậu đen xanh lòng đạt ở mức thấp đến cao và không đồng đều giữa các hộ và các vùng trồng đậu; Tình hình sâu bệnh hại ở mức nhẹ và trung bình. Thu nhập của các hộ đạt ở mức trung bình và không ổn định. Tiêu thụ phụ thuộc lớn vào thương lái và giá bán bấp bênh. Sản xuất đậu đen xanh lòng tuy có những điều thiện thuận lợi nhưng vẫn tồn tại nhiều khó khăn như thị trường đầu ra không ổn định, sâu bệnh nhiều và thường bị thương lái ép giá.
Nghiên cứu này được tiến hành nhằm đánh giá khả năng kháng kháng sinh của các chủng vi khuẩn Vibrio phân lập từ cá biển nuôi lồng bị bệnh xuất huyết tại vùng ven biển Thành phố Huế. Các chủng vi khuẩn phân lập được tiến hành xác định đặc điểm sinh hóa bằng bộ kit API20E và định danh bằng MALDI ToF. Xác định khả năng kháng kháng sinh của vi khuẩn bằng phương pháp khuếch tán trên môi trường Mueller – Hinton Agar (MHA) với 7 loại kháng sinh thuộc 7 nhóm: Beta-lactams, Aminoglycosides, Macrolides, Fluoroquinolones, Phenicols, Tetracyclines, Sulfonamides. Kết quả nghiên cứu đã phân lập được 18 chủng vi khuẩn V. alginolyticus, 4 chủng V. parahaemolyticus, và 5 chủng V. vulnificus trên cá biển bị bệnh xuất huyết nuôi lồng tại Thành phố Huế. Các chủng vi khuẩn V. alginolyticus, V. parahaemolyticus và V. vulnificus nhạy với 5/7 loại kháng sinh thử nghiệm và kháng với 2/7 loại kháng sinh là Oxacillin (1 μg) và Sulfamethoxazole/Trimethoprim (3,75/1,25 μg).
Mục đích của nghiên cứu này là xác định được các điều kiện để thu nhận tinh dầu từ lá hẹ (Allium tuberosum Rottler ex Spreng) ở hai công đoạn: xử lý nguyên liệu và chưng cất. Nghiên cứu gồm 3 nội dung: (i) khảo sát ảnh hưởng của phương thức xử lý nguyên liệu (xay nhỏ, xay nhỏ kết hợp với siêu âm và xay nhỏ kết hợp với vi sóng); (ii) tỉ lệ nguyên liệu và nước (1:1, 1:2, 1:3 và 1:4) ; và (iii) thời gian chưng cất (1, 2, 3 và 4 giờ) đến hiệu suất thu nhận và chất lượng của tinh dầu từ lá hẹ. Kết quả cho thấy, nguyên liệu được xay nhỏ kết hợp với siêu âm, chưng cất với tỉ lệ nguyên liệu: nước là 1:3 trong 3 giờ cho hiệu suất thu nhận tinh dầu cao nhất là 0,156%. Tinh dầu có màu vàng nhạt, lỏng, trong suốt, mùi hăng nồng, đặc trưng của lá hẹ với thành phần chủ yếu là hợp chất sulfide trong đó dimethyl trisulfide có tỉ lệ lớn nhất (34,56%). Tinh dầu thể hiện khả năng kháng Echerichia coli và Staphylococcus aureus với đường kính vòng kháng khuẩn lần lượt là 18,72 mm và 16,69 mm.
Biến đổi khí hậu đang tạo ra thách thức lớn cho nông nghiệp Việt Nam, đòi hỏi đẩy mạnh áp dụng các biện pháp kỹ thuật (BPKT) bền vững. Nghiên cứu này khảo sát 337 hộ nông dân tại 4 xã thuộc thành phố Huế nhằm đánh giá thực trạng và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến áp dụng BPKT trong trồng trọt. Kết quả có 08 BPKT bền vững được áp dụng phổ biến gồm: ủ phân hữu cơ, tưới tiết kiệm, sản xuất theo VietGAP/hữu cơ, quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), sử dụng chế phẩm sinh học, luân canh/xen canh, cải tạo đất bằng chế phẩm và xử lý phế phụ phẩm nông nghiệp. Trong số này, 45,7% hộ đã áp dụng ít nhất một BPKT và có thu nhập trung bình cao hơn so với hộ không áp dụng. Phân tích hồi quy đa biến (R² = 0,587) cho thấy bốn yếu tố tác động tích cực đến mức độ áp dụng gồm: kiến thức về biến đổi khí hậu (β = 0,411), quy mô sản xuất (β = 0,254), tham gia tổ chức cộng đồng (β = 0,182) và khả năng tiếp cận tín dụng (β = 0,137). Nghiên cứu khuyến nghị các giải pháp: nâng cao nhận thức về biến đổi khí hậu, cải thiện dịch vụ khuyến nông, phát triển tổ chức nông dân và hoàn thiện chính sách tín dụng nhằm mở rộng áp dụng BPKT bền vững.
Nghiên cứu thực hiện nhằm khảo sát hiện trạng khai thác nguồn lợi cá chiên (Bagarius sp.), từ đó làm cơ sở để đề xuất biện pháp bảo tồn nguồn lợi cá chiên trên địa bàn tỉnh Phú Thọ hiện nay. Kết quả khảo sát cho thấy đối tượng cá chiên không phải là đối tượng đánh bắt chính của ngư dân, số lượng ngư dân đánh bắt được cá chiên chiếm tỷ lệ từ 6,7–60%, phạm vi đánh bắt rộng, thời gian ngư dân đánh bắt trên sông tương đối cao (từ 4,5–7,7 giờ/ ngày), tuy nhiên sản lượng cá chiên đánh bắt được tương đối thấp (từ 4,6–128,4 kg/ sông/ năm). Nguồn lợi và mật độ cá chiên tại Phú Thọ thấp, khu vực phân bố hẹp, nguyên nhân do việc khai thác quá mức, sử dụng phương tiện đánh bắt và ngư cụ khai thác mang tính triệt để, cùng với quá trình ngăn đập thủy điện, khai thác cát trên các sông đã làm ô nhiễm nguồn nước dẫn tới nguồn lợi cá chiên suy giảm tại Phú Thọ. Mức độ hiểu biết của ngư dân về bảo tồn nguồn lợi và được tham gia các chương trình tập huấn bảo tồn nguồn lợi còn thấp. Trên cơ sở này chúng tôi đã đề xuất một số biện pháp bảo tồn và phát triển nguồn lợi cá chiên trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.
Vi khuẩn quang hợp (VKQH) là nhóm vi sinh vật có tiềm năng ứng dụng cao trong lĩnh vực chăn nuôi nhờ khả năng sinh trưởng mạnh, thích nghi tốt trong điều kiện nhân tạo và thành phần dinh dưỡng phong phú. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm phân lập và tuyển chọn các chủng VKQH bản địa từ vùng ven biển thành phố Huế phục vụ phát triển nguồn sinh khối vi khuẩn giàu protein làm thức ăn bổ sung cho vật nuôi. Trong tổng số 30 mẫu bùn và nước thu thập từ các khu vực ven biển, 28 chủng VKQH đã được phân lập thành công. Các chủng này được đánh giá theo khả năng sinh trưởng trong môi trường nhân tạo và thành phần dinh dưỡng. Kết quả cho thấy 4 chủng tiêu biểu gồm ĐH1.2, RC2.2, TH1.4 và LA2.6 có tốc độ sinh trưởng cao và hàm lượng dinh dưỡng nổi bật: hàm lượng protein tổng số dao động từ 36,25% đến 50,75%; lipid từ 9,4% đến 11,0%; carotenoid từ 1,54 đến 2,14 mg/mL. Các chủng được tuyển chọn có tiềm năng làm tiền đề cho các nghiên cứu sâu hơn về phát triển sinh khối VKQH bản địa phục vụ sản xuất thức ăn chăn nuôi theo hướng bền vững.
Tại tỉnh Thừa Thiên Huế, các loài Thiên niên kiện (Homalomena ssp.) phân bố ở rừng tự nhiên ở các huyện/thị xã từ Phong Điền, A Lưới, Nam Đông và Phú Lộc. Nghiên cứu này rà soát tài liệu thứ cấp, từ đó xác định các khu vực có phân bố của loài và tiến hành điều tra thực địa. Các khu vực có phân bố các loài Thiên niên kiện có nhiệt độ trung bình từ 22–25 °C; độ ẩm trung bình từ 85–88%; lượng mưa trung bình năm từ 4.235–5.112 mm. Độ cao phân bố tập trung của loài từ 100–800 mét so với mực nước biển; Độ dốc phổ biến từ 15–20 độ. Thiên niên kiện thường xuất hiện trên đất feralit màu đỏ vàng từ đá sét và biến chất (Fs) và đất feralit màu vàng đỏ từ đá macma axít (Fa). Độ dày tầng đất trung bình. Trạng thái thực bì là rừng tự nhiên thường xanh nghèo đến giàu. Độ tàn che tầng cây gỗ phổ biến từ 0,4–0,8. Các quần thể đã bắt gặp trong quá trình điều tra có phạm vi phân bố không gian rộng, mật độ quần thể từ trung bình đến cao, tái sinh tự nhiên tốt. Từ kết quả điều tra, nghiên cứu đã lập bản đồ phân bố của các loài, nhằm mục tiêu bảo tồn và xác lập các vùng có khả năng xây dựng nguồn nguyên liệu trong tương lai.
ĐÍNH CHÍNH: HOẠT ĐỘNG KINH DOANH DỊCH VỤ DU LỊCH CỦA CÁC HỘ DÂN VÙNG ĐẦM PHÁ LĂNG CÔ, THỪA THIÊN HUẾ Tác giả: Cao Thị Thuyết*, Trương Văn Tuyển, Hồ Lê Phi Khanh, Nguyễn Ngọc Truyền, Trần Thị Ánh Nguyệt ID: 7203 | DOI: https://doi.org/10.26459/hueunijard.v132i3D.7203 Citation: Thuyet, C. T., Van Tuyen, T., Khanh, H. L. P., Truyen, N. N., & Nguyet, T. T. A. (2023). HOẠT ĐỘNG KINH DOANH DỊCH VỤ DU LỊCH CỦA CÁC HỘ DÂN VÙNG ĐẦM PHÁ LĂNG CÔ, THỪA THIÊN HUẾ. Hue University Journal of Science: Agriculture and Rural Development, 132(3D), 81-94. THÔNG TIN ĐÍNH CHÍNH: Trong số 132(3D) năm 2023, bài báo với ID 7203 được xuất bản trực tuyến, nay Tạp chí xin đính chính/hiệu chỉnh lại thông tin tại “mục 4.6 từ trang 91” như sau: ID: 8121 | DOI: https://doi.org/10.26459/hueunijard.v134i3D.8121 Xem đính chính: ĐÍNH CHÍNH
Đậu tương (Glycine max (L.) Merr.) là cây công nghiệp ngắn ngày có giá trị kinh tế cao. Nghiên cứu thực hiện tại huyện Quảng Điền, thành phố Huế trong năm 2024, đánh giá hiệu quả của sử dụng kết hợp vi khuẩn Rhizobium và liều lượng đạm đến năng suất, khả năng cố định đạm sinh học của cây đậu tương và tính chất đất cát biển. Thí nghiệm được bố trí theo kiểu ô lớn – ô nhỏ (Split – plot) bao gồm nhân tố ô lớn (bổ sung và không bổ sung vi khuẩn Rhizobium) và nhân tố ô nhỏ với 4 lượng đạm (0, 20, 40, 60 kg N/ha). Kết quả cho thấy, bón đạm kết hợp với vi khuẩn Rhizobium có tác động tích cực đến năng suất và khả năng cố định đạm sinh học của đậu tương và tính chất đất. Công thức bón 40 kg N/ha kết hợp với vi khuẩn Rhizobium cho năng suất cao nhất (3,22 tấn/ha), trong khi mức bón 20 kg N/ha kết hợp vi khuẩn Rhizobium cho hiệu quả cố định đạm sinh học tốt nhất (tỷ lệ Ndfa đạt 56,97%). Bón vi khuẩn Rhizobium cũng góp phần cải thiện pH và một số tính chất đất cát biển. Có thể sử dụng kết hợp vi khuẩn Rhizobium với lượng đạm từ 20 đến 40 kg N/ha để nâng cao năng suất, khả năng cố định đạm sinh học và cải thiện tính chất đất cát biển.
Nảy mầm là một biện pháp sinh học hiệu quả để cải thiện giá trị dinh dưỡng của hạt. Nghiên cứu này nhằm đánh giá ảnh hưởng của thời gian, nhiệt độ ngâm đến tỷ lệ nảy mầm và điều kiện nảy mầm đến hoạt độ enzyme trong hạt đậu đỏ. Hoạt độ amylase, cellulase và protease lần lượt được xác định bằng phương pháp phản ứng với Dinitrosalicylic acid và Folin, đo mật độ quang ở bước sóng 540 nm và 750 nm. Thành phần amino acid và đường được phân tích bằng GC-MS sau dẫn xuất TMS. Kết quả cho thấy, ngâm hạt ở 35 oC trong 6 giờ cho tỷ lệ nảy mầm cao nhất (97,13%). Nảy mầm ở 25 oC trong 36 giờ cho hoạt độ enzyme đạt giá trị cao nhất. Trong điều kiện nảy mầm này hàm lượng một số amino acid tăng đáng kể: L-glutamic acid (278,95%), L-alanin (242,71%), L-valine (504,88%), L-threonine (437,63%) và 4-aminobutanoic acid (75,58%), trong khi đó glycine giảm 27,85% so với hạt thô. Sau nảy mầm, một số amino acid mới xuất hiện ở dạng tự do như L-leucine, L-isoleucine, L-proline, serine, L-aspartic acid và phenylalanine. Tổng đường hòa tan ở hạt nảy mầm giảm so với hạt thô nhưng glucose, fructose và psicose tăng. Kết quả này là tiền đề cho việc ứng dụng tạo ra các sản phẩm từ hạt đậu đỏ nảy mầm có giá trị dinh dưỡng cao.
Đông Giang và Nam Giang là hai huyện miền núi nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Quảng Nam. Tại khu vực này, người dân địa phương đã ghi nhận sự xuất hiện của loài Mây nước mỡ trong tự nhiên. Mây nước mỡ là loài cây lâm sản ngoài gỗ, mang lại nguồn thu nhập cao và là nguồn nguyên liệu trong sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ ở miền Trung Việt Nam để xuất khẩu ra thị trường thế giới. Nghiên cứu được thực hiện nhằm bổ sung kiến thức bản địa của người Cơ Tu về quản lý và phát triển bền vững loài Mây nước mỡ, đồng thời bảo tồn và phát huy tri thức địa phương để góp phần vào việc quản lý và phát triển bền vững loài Mây nước mỡ. Phương pháp điều tra phỏng vấn đã được áp dụng, kết hợp với việc điều tra đánh giá các mô hình rừng trồng Mây nước mỡ trực tiếp tại hiện trường. Kết quả nghiên cứu cho thấy nhiều người Cơ Tu có kinh nghiệm trong việc nhận diện loài Mây nước mỡ. Họ nắm rõ đặc điểm hình thái, địa điểm phân bố, phương thức khai thác và kỹ thuật gây trồng phù hợp với điều kiện tự nhiên ở hai huyện Đông Giang và Nam Giang, tỉnh Quảng Nam.
Nghiên cứu này nhằm đánh giá việc thực hiện các quyền sử dụng đất nông nghiệp (QSDĐNN) và mức độ hài lòng của đồng bào dân tộc thiểu số (ĐBDTTS) tại huyện Nam Đông, thành phố Huế. Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên để chọn 138 hộ người ĐBDTTS để phỏng vấn và sử dụng thang đo 05 mức độ của Likert để đánh giá. Giai đoạn 2019–2023 có 5.577 hồ sơ thực hiện các QSDĐ của ĐBDTTS. Trong đó, số lượng hồ sơ đăng ký thế chấp QSDĐNN chiếm nhiều nhất với 2.612 hồ sơ; tiếp đến 1.362 hồ sơ với diện tích chuyển nhượng và 1.081 hồ sơ đăng ký thực hiện quyền cho thuê; số lượng hồ sơ thấp nhất là thừa kế với 522 hồ sơ. Điểm trung bình đánh giá sự hài lòng của các hộ ĐBDTTS đối với các tiêu chí trong quá trình họ tham gia thực hiện quyền của người SDĐNN đa số có giá trị nằm trong khoảng trung bình và hài lòng. Mức độ hài lòng của ĐBDTTS trong quá trình thực hiện các QSDĐNN ở xã Thượng Long được đánh giá tốt hơn ở nhiều tiêu chí so với xã Thượng Quảng. Nghiên cứu cũng đã đề xuất được một số giải pháp phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương nhằm góp phần bảo đảm quyền của người SDĐNN đối với ĐBDTTS được thực hiện có hiệu quả hơn.