
Thiếu hụt carnitine nguyên phát (Primary Carnitin deficiency - PCD) là một rối loạn di truyền gen lặn trên nhiễm sắc thể thường do đột biến gen SLC22A5, mã hóa cho chất vận chuyển cation hữu cơ 2 (OCTN2), gây giảm nồng độ carnitine trong huyết tương. Hiện nay, chẩn đoán PCD thường được dựa trên xét nghiệm hóa sinh kết hợp biểu hiện lâm sàng chưa thực sự đặc hiệu so với các bệnh lý khác. Từ những lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu xác định các đột biến gen SLC22A5 cho 4 gia đình với 4 bệnh nhân có kết quả sàng lọc MS/MS nghi ngờ thiếu hụt carnitine nguyên phát, và 11 thành viên gia đình có mối quan hệ huyết thống bậc 1 với bệnh nhân. Bằng phương pháp giải trình tự Sanger đã xác định được 03 đột biến gen SLC22A5 gồm c.760C>T (p.Arg254*), c.51C>G (p.Phe17Leu) và c.338G>A (p.Cys113Tyr). Phân tích phả hệ cho thấy các đột biến có tính chất di truyền trong gia đình và phát hiện được các trường hợp người lành mang gen bệnh. Nghiên cứu khẳng định vai trò của xét nghiệm sinh học phân tử trong chẩn đoán xác định PCD và hỗ trợ tư vấn di truyền cho các gia đình có nguy cơ.
Nghiên cứu cắt ngang trên 127 người bệnh lọc máu chu kỳ tại Bệnh viện Phục hồi chức năng - Điều trị bệnh nghề nghiệp từ tháng 10/2024 đến 06/2025 nhằm xác định tỷ lệ hiện mắc và các yếu tố nguy cơ thiếu cơ (Sarcopenia) theo tiêu chuẩn AWGS 2019 (Asian Working Group for Sarcopenia) bao gồm giảm tỷ số khối cơ xương kèm giảm sức mạnh cơ hoặc giảm hiệu suất vận động. Kết quả cho thấy tuổi trung bình 55,71 ± 15,02; nam chiếm 52,8%, thiếu cơ chiếm 41,7% trong đó 90,6% thiếu cơ nặng. Các yếu tố liên quan bao gồm tuổi, chu vi bắp chân nhỏ, điểm MNA và Kt/V. Khi phân tích hồi qui đa biến logistic, mô hình hồi quy xác định 3 yếu tố liên quan đến thiếu cơ là tuổi (OR = 1,04), Kt/V (OR = 5,66) và điểm MNA (OR = 0,69), diện tích dưới đường cong ROC 0,81. Thiếu cơ chiếm tỉ lệ cao 41,7% trong người bệnh lọc máu chu kỳ với các yếu tố liên quan là tuổi, Kt/V và MNA.
Tế bào lympho T CD4+ đóng vai trò quan trọng trong điều hoà hệ thống miễn dịch và kiểm soát nhiễm trùng sau ghép tế bào gốc tạo máu đồng loài. Nghiên cứu hồi cứu được thực hiện trên 78 bệnh nhân lơ xê mi cấp dòng tủy được ghép tế bào gốc đồng loài từ máu ngoại vi tại Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương, nhằm mô tả đặc điểm hồi phục tế bào T CD4+ và phân tích một số yếu tố ảnh hưởng trong 100 ngày đầu sau ghép. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ bệnh nhân hồi phục T CD4+ ≥ 200 tế bào/µL trong 100 ngày đầu là 65,4%. Xác suất hồi phục tích luỹ của T CD4+ tăng dần theo thời gian. Trong phân tích đa biến, kiểu ghép là yếu tố liên quan độc lập đối với hồi phục T CD4+ trong 100 ngày đầu, trong đó nhóm ghép nửa hoà hợp có khả năng hồi phục T CD4+ thấp hơn nhóm ghép hoà hợp hoàn toàn (HR = 0,28; p < 0,001).
Nghiên cứu khảo sát đặc điểm kiểu hình các phân nhóm tế bào B điều hòa (Breg) máu ngoại vi ở bệnh nhân pemphigoid bọng nước (BP). 76 bệnh nhân BP và 30 người tình nguyện khỏe mạnh được phân tích tế bào dòng chảy. Các dấu ấn chính gồm CD24caoCD27+ Breg, IgM+CD1d+CD147+ Breg và cường độ biểu hiện của CD147 (CD147 MFI). Phân tích thống kê sử dụng kiểm định phi tham số có hiệu chỉnh dương tính giả (FDR) và hồi quy logistic đa biến hiệu chỉnh tuổi, giới. CD24caoCD27+ Breg ở nhóm BP cao hơn nhóm chứng [15,25 (9,08 - 26,12)% so với 8,71 (2,78 - 16,18)%; p = 0,009]. Ngược lại, IgM+CD1d+CD147+ Breg trong tế bào B giảm [0,85 (0,10 - 3,42)% so với 3,09 (1,81 - 7,96)%; p < 0,001] và CD147 MFI cũng thấp hơn [49,60 (32,95 - 76,90) so với 68,55 (55,60 - 154,50); p < 0,001]. Không ghi nhận tương quan có ý nghĩa với BPDAI. BP liên quan với thay đổi kiểu hình Breg ngoại vi, đặc trưng bởi mất cân bằng giữa các phân nhóm tế bào Breg.
An thần tỉnh giúp giảm lo âu và tăng hợp tác của người bệnh trong đặt nội khí quản qua ống nội soi mềm khi người bệnh tỉnh ở các trường hợp đường thở khó tiên lượng trước, nhưng ranh giới với an thần sâu rất hẹp và có nguy cơ cao ức chế hô hấp. Nghiên cứu này nhằm đánh giá kết quả chuẩn độ nồng độ đích tại vị trí tác dụng của propofol TCI (truyền kiểm soát nồng độ đích) theo mô hình Schnider để đạt an thần tỉnh mong muốn trước đặt nội khí quản qua ống nội soi mềm ở người bệnh áp xe vùng hàm mặt có khít hàm. Nghiên cứu can thiệp tiến cứu một nhánh với 51 người bệnh có khít hàm (độ há miệng tối đa < 20 mm), an thần tỉnh bằng propofol truyền kiểm soát nồng độ đích (propofol TCI) theo mô hình dược động học Schnider. Propofol TCI khởi đầu với Ce 0,8 µg/mL, chuẩn độ tăng 0,2 µg/mL hoặc giảm 0,1 µg/mL mỗi 2 phút để đạt an thần tỉnh mong muốn được xác định bằng BIS 80 – 90 và OAA/S điểm 4. Kết quả cho thấy mức an thần tỉnh mong muốn đạt được với BIS trung vị 84 (82 – 85) và Ce trung vị 0,8 (0,8 – 1,0) µg/mL. Có 1 trường hợp ngừng thở thoáng qua với Ce đích 1,0 µg/mL. Kết luận: Propofol TCI với Ce từ 0,8 đến 1,0 µg/mL có thể giúp người bệnh đạt an thần tỉnh mong muốn với BIS trong khoảng 80 ‒ 90 và OAA/S điểm 4 trước đặt nội khí quản qua ống nội soi mềm ở người bệnh áp xe vùng hàm mặt có khít hàm, nhưng cần chuẩn độ Ce từng bước nhỏ, theo dõi sát hô hấp và có kế hoạch kiểm soát đường thở cấp cứu.
Đa hình rs1333049 gen ANRIL đã được ghi nhận có liên quan đến nguy cơ mắc bệnh động mạch vành, tuy nhiên dữ liệu tại Việt Nam còn hạn chế. Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 44 bệnh nhân nghi ngờ bệnh động mạch vành có chụp mạch nhằm khảo sát đặc điểm đa hình rs1333049 gen ANRIL và một số yếu tố nguy cơ tim mạch. Độ tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 68,84 ± 7,76, giới tính nữ chiếm 56,8%. Tăng huyết áp là yếu tố nguy cơ thường gặp nhất (97,7%). Tỉ lệ đa hình rs1333049 gen ANRIL CC/CG/GG lần lượt là 40,9%/47,7%/11,4%. Tỉ lệ alen C/G lần lượt là: 64,8 %/35,2%. Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ mắc đái tháo đường típ 2 giữa các kiểu gen rs1333049 (p = 0,038). Không ghi nhận mối liên quan giữa đa hình gen và hẹp động mạch vành có ý nghĩa (p > 0,05). Kết luận: Nghiên cứu bước đầu có thể gợi ý một xu hướng liên quan giữa đa hình rs1333049 gen ANRIL với đái tháo đường típ 2 tuy nhiên chưa đủ bằng chứng để khẳng định. Đồng thời không phát hiện được mối liên quan giữa đa hình rs1333049 gen ANRIL và hẹp động mạch vành có ý nghĩa trong mẫu nghiên cứu này.
Mục tiêu của nghiên cứu là xác định tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa (HCCH) ở bệnh nhân gút điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Thái Bình và nhận xét mối liên quan giữa các thành tố của hội chứng chuyển hóa với đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của nhóm bệnh nhân nghiên cứu. Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 72 bệnh nhân nam giới mắc gút từ tháng 10/2025 đến tháng 03/2026. Kết quả tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa theo IDF (2005) là 48,6%. Nhóm bệnh nhân gút mắc hội chứng chuyển hóa có chỉ số BMI, mức độ đau khớp theo VAS, số khớp sưng và đau đều cao hơn rõ rệt so với nhóm không mắc hội chứng chuyển hóa (p < 0,05). Lạm dụng glucocorticoid trong điều trị gút làm tăng tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa lên tới 81,8%. Nồng độ glucose máu có liên quan chặt chẽ với hội chứng chuyển hóa (p < 0,05). Kết luận, tỷ lệ đồng mắc hội chứng chuyển hóa ở bệnh nhân gút tại Bệnh viện Đa khoa Thái Bình ở mức cao. Hội chứng chuyển hóa làm trầm trọng hơn tình trạng viêm khớp cấp và liên quan mật thiết với béo phì, lạm dụng glucocorticoid và rối loạn đường huyết.
Kiểm soát mất máu trong phẫu thuật cắt gan có ảnh hưởng đến kết cục lâm sàng. Chiến lược duy trì áp lực tĩnh mạch trung tâm (CVP) thấp được áp dụng nhằm giảm chảy máu qua giảm áp lực thủy tĩnh tại xoang gan. Bài tổng quan hệ thống hóa các phương pháp hạ CVP để kiểm soát mất máu trong phẫu thuật cắt gan. Tổng quan mô tả qua tra cứu PubMed/MEDLINE đến tháng 2/2026. Từ khóa: CVP thấp, cắt gan, mất máu. Các biện pháp hạ CVP chia thành hai nhóm. Nhóm thiếu dịch tuyệt đối (hạn chế dịch, lợi niệu, trích máu giảm thể tích) đạt CVP đích nhanh, giảm mất máu hiệu quả nhưng có thể kéo dài thời gian nằm viện. Nhóm tái phân bố dịch bằng thuốc giãn mạch đạt tỷ lệ thành công 85 - 92%; Milrinone có vẻ ưu thế hơn Nitroglycerin nhờ tác dụng kép giãn mạch- trợ tim. Điều chỉnh thông khí giảm CVP tốt nhưng cần tránh gây ưu thán làm giãn mạch gan.
Resistin là một adipokine được tiết chủ yếu từ đại thực bào và bạch cầu đơn nhân, có vai trò quan trọng trong hoạt hóa đáp ứng viêm và quá trình hủy hoại sụn khớp. Nghiên cứu với mục tiêu là khảo sát đặc điểm nồng độ resistin huyết thanh và mối liên quan với mức độ nặng ở bệnh nhân thoái hóa khớp gối nguyên phát. Mô tả cắt ngang, 79 bệnh nhân thoái hóa khớp gối nguyên phát điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Bình Thuận từ tháng 08 năm 2025 đến tháng 02 năm 2026. Kết quả ghi nhận, đa số bệnh nhân giai đoạn II (55,7%), và giai đoạn III (24,0%), trong khi giai đoạn I và IV chiếm tỷ lệ thấp hơn (lần lượt 15,2% và 5,1%). Tại giai đoạn I, nồng độ resistin trung vị là 383,85 pg/mL (IQR: 321,56 - 844,48) tăng lên là 726,95 pg/mL (IQR: 433,32 - 1168,83) giai đoạn II và đạt 1981,92 pg/mL (IQR: 1883,20 - 2882,09) ở giai đoạn III và cao nhất ở giai đoạn IV là 2217,31 pg/mL (IQR: 1253,82 - 3184,73) (p < 0,001). Sau khi đã hiệu chỉnh các yếu tố, nồng độ resistin liên quan độc lập với mức độ nặng của bệnh với OR là 1,30 lần (KTC 95%: 1,02 - 4,20; p = 0,041. Nồng độ resistin huyết thanh tăng theo độ nặng của thoái hóa khớp gối và là yếu tố liên quan độc lập với thoái hóa khớp gối mức độ nặng.
Nghiên cứu với mục tiêu mô tả đặc điểm rối loạn giấc ngủ ở người bệnh ung thư phổi không tế bào nhỏ tại Bệnh viện Bạch Mai bằng phương pháp mô tả cắt ngang trên 184 người bệnh điều trị nội trú từ tháng 9/2025 đến tháng 3/2026. Kết quả cho thấy tỷ lệ người bệnh có rối loạn giấc ngủ là 61,41%. Trong các loại rối loạn giấc ngủ, mất ngủ là phổ biến nhất với 58,15%; tiếp theo là rối loạn ngưng thở khi ngủ, hội chứng chân không yên, rối loạn nhịp thức ngủ và ác mộng. Điểm trung bình thang đo Pittsburgh (PSQI) là 9,52 ± 4,57 với 72,28% người bệnh có chất lượng giấc ngủ kém (PSQI > 5). Theo thang đo ISI, tỷ lệ mất ngủ là 53,80% với điểm trung bình là 8,27 ± 6,51. Các đặc điểm rối loạn giấc ngủ thường gặp là khó đi vào giấc, khó duy trì giấc, thức giấc giữa đêm và hiệu quả giấc ngủ kém. Kết quả này khuyến nghị việc đưa sàng lọc và đánh giá giấc ngủ nên được đưa vào thực hành chăm sóc thường quy nhằm phát hiện sớm và can thiệp kịp thời các rối loạn giấc ngủ, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống và hiệu quả điều trị cho người bệnh.
Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 140 bệnh nhân thoái hóa khớp gối ở Bệnh viện Đa khoa Tiền Giang trong khoảng thời gian tháng 06/2025 đến tháng 01/2026 nhằm mô tả đặc điểm đa hình rs4747096 gen ADAMTS-14 và khảo sát mối liên quan giữa đa hình này với tổn thương trên cộng hưởng từ. Kết quả ghi nhận tuổi là 51,99 ± 10,25. Kiểu gen GG có tỷ lệ thoái hóa nặng là 66,7% cao hơn so với AA (35,4%) và AG (40,0%). Trong phân tích đa biến, sau khi hiệu chỉnh với các yếu tố nguy cơ, phát hiện đái tháo đường và kiểu gen GG của ADAMTS-14 là yếu tố liên quan đến thoái hóa khớp gối mức độ nặng, với giá trị OR lần lượt là 2,40 (KTC 95%: 1,12 - 6,21) và 1,92 (KTC 95%: 1,08 - 5,32). Tổng hợp dữ liệu trên cho thấy yếu tố chuyển hóa và đa hình gen, cụ thể là đái tháo đường và kiểu gen GG của ADAMTS-14 có liên quan với thoái hóa khớp gối mức độ nặng trên chụp cộng hưởng từ.
Liên cầu nhóm A gây viêm họng cấp chiếm khoảng 15 - 30% các trường hợp ở trẻ và có thể dẫn đến nhiều biến chứng như thấp tim, thấp khớp, viêm cầu thận cấp... Thang điểm Centor cải tiến là công cụ dự đoán khả năng nhiễm liên cầu nhóm A dựa trên các tiêu chí lâm sàng, hỗ trợ quyết định sử dụng kháng sinh hợp lý. Nghiên cứu mô tả cắt ngang đánh giá giá trị chẩn đoán trên 170 trẻ viêm họng cấp tại Bệnh viện Nhi Đồng thành phố Cần Thơ. Thang điểm Centor cải tiến được sử dụng làm test chỉ số với tiêu chuẩn tham chiếu là nuôi cấy dịch hầu họng định danh liên cầu nhóm A. Kết quả ghi nhận tỷ lệ nuôi cấy dương tính là 12,9%. Các triệu chứng sốt > 38°C (48,2%), amidan phù nề/xuất tiết (26,5%) liên quan có ý nghĩa thống kê với kết quả nuôi cấy dương tính (p < 0,05). Thang điểm Centor cải tiến có giá trị dự đoán khá tốt khả năng nhiễm liên cầu nhóm A với AUC = 0,774; ngưỡng cắt ≥ 3 đạt độ nhạy 77,3% và độ đặc hiệu 73,0%.
Chúng tôi báo cáo trường hợp bệnh nhân nữ 14 tuổi mắc lupus hoạt động mạnh với suy thận cấp gây vô niệu và xuất huyết tiêu hóa lan tỏa, được điều trị bằng lọc máu liên tục kết hợp lọc hấp phụ. Các chỉ số viêm, chức năng thận và huyết học được theo dõi trước lọc và sau 24, 48, 72 giờ. Kết quả cho thấy IL-6 giảm từ 612 xuống 68,1 pg/mL sau 72 giờ, Procalcitonin (PCT) giảm nhanh trong 48 giờ đầu, ure và creatinine giảm dần, xuất huyết tiêu hóa được kiểm soát, có nước tiểu trở lại từ ngày thứ 7 và ngừng được lọc máu liên tục. Tuy nhiên, do có sự phối hợp với nhiều biện pháp điều trị khác như corticosteroid liều cao, kháng sinh phổ rộng, truyền máu và hồi sức tích cực khác nên chưa thể xác định mối liên quan nhân quả của từng can thiệp với sự cải thiện lâm sàng. Mặc dù vậy, trường hợp này gợi ý rằng phối hợp lọc máu liên tục và lọc hấp phụ có thể là một lựa chọn hỗ trợ tiềm năng trong lupus nặng có suy thận cấp và xuất huyết tiêu hóa.
Gãy cổ xương đùi và gãy liên mấu chuyển là các tổn thương thường gặp trong chấn thương vùng háng. Việc phát hiện và phân loại chính xác có vai trò quan trọng trong lựa chọn phương pháp điều trị nhưng phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm bác sĩ. Nghiên cứu này sử dụng mô hình RF-DETR làm cơ sở để xây dựng mô hình phát hiện và phân loại gãy cổ xương đùi và gãy liên mấu chuyển trên phim X-quang. Mô hình RF-DETR được huấn luyện và kiểm định nội bộ trên 1.483 hình ảnh X-quang công khai. Đánh giá ngoài được thực hiện trên 93 phim X-quang tại bệnh viện, với tiêu chuẩn vàng là sự đồng thuận của hai bác sĩ chuyên khoa chấn thương chỉnh hình. Trên tập kiểm định nội bộ, mô hình đạt mAP@50 93,9%, precision 91,8%, recall 90,6%. Trên dữ liệu bệnh viện, mô hình đạt accuracy 95,7% (KTC 95%: 89,5 - 98,3%), cao hơn bác sĩ đa khoa 78,5% (KTC 95%: 69,1 - 85,6%), p < 0,001 (McNemar test), với hệ số kappa 0,936. Mô hình học sâu RF-DETR cho hiệu năng cao và có tiềm năng hỗ trợ chẩn đoán lâm sàng.
Nghiên cứu này nhằm mục tiêu xây dựng bộ chẩn đoán lncRNA có độ chính xác cao để chẩn đoán ung thư biểu mô tuyến vú dựa trên dữ liệu giải trình tự thế hệ mới (RNA-seq) được khai thác từ cơ sở dữ liệu TCGA. Các lncRNA biểu hiện khác biệt được sàng lọc bằng thuật toán DESeq2, sau đó lựa chọn đặc trưng bằng hồi quy Logistic LASSO với kiểm định chéo 5 lần (chọn ngưỡng λ1se). Độ ổn định của mô hình được kiểm chứng thông qua phương pháp lấy mẫu lại phân tầng lặp lại 50 lần. Từ 3.293 DE-lncRNAs ban đầu, nghiên cứu đã thiết lập được bộ chẩn đoán gồm 06 lncRNA (LINC01614, LINC02202, LINC01537, AC134312.5, LINC02185 và AC106897.1). Mô hình đạt AUC = 0,9997 (KTC 95%: 0,9987 - 1,0000); độ nhạy 100% (KTC 95%: 98,02 - 100,0%) và độ đặc hiệu 93,75% (KTC 95%: 69,77 - 99,84%) tại điểm cắt tối ưu. Kết quả thẩm định cho thấy tính ổn định cao (AUC trung bình 0,9976). Bộ chẩn đoán gồm 06 lncRNA cho thấy khả năng phân biệt mô ung thư biểu mô tuyến vú xâm nhập và mô vú bình thường với hiệu năng cao trên tập dữ liệu TCGA-BRCA. Kết quả nghiên cứu gợi ý vai trò tiềm năng của lncRNA trong hỗ trợ chẩn đoán ung thư vú. Tuy nhiên, cần có thêm các nghiên cứu xác thực trên các quần thể lâm sàng độc lập.
Để xác định tỉ lệ và các yếu tố ảnh hưởng đến hiện tượng phôi nén không hoàn toàn, chúng tôi tiến hành nghiên cứu thuần tập tiến cứu trên 600 phôi từ 97 chu kỳ IVF/ICSI, nuôi cấy Time-lapse. Kết quả cho thấy nén không hoàn toàn chiếm 59,5% số phôi có biểu hiện nén. Các đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân không liên quan độc lập đến tỉ lệ phôi nén không hoàn toàn. Bất thường phân chia sớm là yếu tố nguy cơ cao, làm tăng nguy cơ nén không hoàn toàn do loại trừ tế bào (18,09 lần), do đào thải tế bào (4,01 lần) và do cả hai dạng bất thường (19,36 lần). Số tế bào ở 68 giờ nhiều, bắt đầu nén muộn và tỉ lệ mảnh vỡ bào tương nhiều làm tăng nguy cơ xuất hiện nén không hoàn toàn; ngược lại, số tế bào lúc bắt đầu nén nhiều làm giảm nguy cơ này. Như vậy, nén không hoàn toàn là hiện tượng phổ biến, bị chi phối chủ yếu bởi yếu tố nội tại của phôi (bất thường phân chia, xáo trộn động học) thay vì đặc điểm lâm sàng.
Biến dạng mũi thứ phát ở bệnh nhân khe hở môi một bên thường đặc trưng bởi tình trạng thiếu độ nhô, giảm độ xoay đầu mũi và bất cân xứng mũi. Nghiên cứu mô tả loạt ca bệnh trên 20 bệnh nhân khe hở môi một bên được phẫu thuật tạo hình mũi bằng sụn sườn tự thân tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 từ 06/2024 đến 12/2025. Ảnh chụp khuôn mặt tư thế nghiêng 90° trước mổ và sau mổ 6 tháng được phân tích bằng phần mềm ImageJ nhằm đánh giá độ nhô đầu mũi thông qua giá trị tuyệt đối độ nhô và chỉ số Goode, đồng thời đánh giá độ xoay đầu mũi qua góc mũi - môi. Kết quả cho thấy độ nhô và độ xoay đầu mũi cải thiện rõ rệt sau phẫu thuật. Phẫu thuật tạo hình mũi bằng sụn sườn tự thân giúp tăng cường nâng đỡ cấu trúc và cải thiện kết quả thẩm mỹ ở bệnh nhân khe hở môi một bên.
Mục tiêu của nghiên cứu là khảo sát đặc điểm lâm sàng và đánh giá kết quả điều trị tụt nướu răng cửa hàm dưới sau chỉnh nha bằng phẫu thuật ghép mô liên kết. Nghiên cứu can thiệp lâm sàng tiến cứu, không nhóm chứng được thực hiện trên 30 bệnh nhân. Các chỉ số RD, CAL, RW, WKT và GT được đánh giá trước phẫu thuật, sau phẫu thuật 1 tháng và 3 tháng. Sau 3 tháng, RD, CAL và RW giảm có ý nghĩa thống kê, trong khi WKT và GT tăng có ý nghĩa thống kê so với trước phẫu thuật (p < 0,05). Tỷ lệ che phủ chân răng hoàn toàn đạt 45,00% ở nhóm Miller I và 5,00% ở nhóm Miller II (p = 0,001). Chiều rộng mô sừng hóa ban đầu có tương quan nghịch mạnh với mức phục hồi tụt nướu sau 3 tháng (r = -0,710; p < 0,001). Phẫu thuật ghép mô liên kết bằng kỹ thuật đường hầm giúp cải thiện các chỉ số lâm sàng, tăng chiều rộng mô sừng hóa và độ dày nướu ở vùng răng cửa hàm dưới sau chỉnh nha.
Nghiên cứu nhằm đánh giá vai trò và giá trị hỗ trợ của siêu âm trong phẫu thuật (SATPT) trong định vị, xác định ranh giới và phát hiện u tồn dư ở bệnh nhân u nội sọ, đối chiếu với cộng hưởng từ (CHT) sau mổ sớm. Nghiên cứu mô tả hồi cứu kết hợp tiến cứu trên 34 bệnh nhân phẫu thuật u nội sọ có sử dụng SATPT tại Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn từ 01/2021 đến 03/2026; CHT sau mổ trong 48 giờ là tiêu chuẩn tham chiếu. SATPT định vị đúng khối u trong 34/34 trường hợp. Tỷ lệ lấy u triệt để trên CHT sau mổ là 73,5%. Trong phát hiện u tồn dư, SATPT có độ nhạy 55,6%, độ đặc hiệu 100%, giá trị dự báo dương 100%, giá trị dự báo âm 86,2% và độ chính xác 88,2%. Các trường hợp bỏ sót chủ yếu là phần tồn dư nhỏ, nằm sâu hoặc rìa hốc mổ không rõ. SATPT là phương tiện thời gian thực hữu ích, chi phí hợp lý, nhưng cần phối hợp với CHT trong u xâm lấn.
Nghiên cứu mô tả, hồi cứu trên 56 bệnh nhân ung thư thực quản biểu mô vảy 1/3 trên di căn hạch thượng đòn được hóa xạ trị đồng thời triệt căn tại Bệnh viện K từ tháng 1/2022 đến tháng 12/2024 nhằm đánh giá kết quả sớm với điều trị. Tất cả bệnh nhân trong nghiên cứu là nam giới với tuổi trung bình là 59,0. Đa số bệnh nhân có nuốt nghẹn từ độ 2 trở lên và bệnh ở giai đoạn tiến triển (u T3-T4, hạch N2-3, kích thước u từ 5,3 cm trở lên). Vị trí hạch thượng đòn di căn chủ yếu ở nhóm IV và bên phải. Liều xạ trị trung vị là 61,6 Gy và phác đồ hóa trị chủ yếu là mFOLFOX6 và CF. Tỷ lệ đáp ứng (hoàn toàn và một phần) điều trị theo tiêu chuẩn RECIST 1.1 là 59,0%, tuy nhiên, tỷ lệ bệnh tiến triển còn cao (21,4%). Trong mô hình hồi quy logistic đơn biến và đa biến, chiều dài u (ngưỡng cắt 5,3 cm) và mức độ nuốt nghẹn là các yếu tố có khả năng dự báo tỷ lệ đáp ứng điều trị (p < 0,05).