
Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá tác động của enzyme protease nội tại đến khả năng thủy phân protein từ thịt đầu tôm thẻ. Nội dung khảo sát bao gồm ảnh hưởng của thời gian trữ đông thịt đầu tôm thẻ đến quá trình thủy phân protein. Bên cạnh đó, quá trình tiền xử lý nhằm kích hoạt protease nội tại được tối ưu hóa theo phương pháp bề mặt đáp ứng với 3 thừa số nhiệt độ, pH và thời gian. Thời gian thủy phân protein thịt đầu tôm bằng protease nội tại sau khi hoạt hóa cũng được nghiên cứu. Kết quả khảo sát cho thấy thời gian trữ đông thịt đầu tôm thích hợp là 6 tuần. Điều kiện kích hoạt enzyme thủy phân đạt tốt nhất khi thịt đầu tôm thẻ được tiền xử lý nhiệt ở nhiệt độ 57,5°C, pH 6,95 và thời gian 3,78 phút. Khi đó, hiệu suất thủy phân (%DH) protein thịt đầu tôm thẻ tăng đến 41,12%, hàm lượng protein đạt 44,33 mg/100 g sau 6 giờ.
Chưng cất màng tiếp xúc trực tiếp (DCMD) trong nghiên cứu này là một cấu hình đơn giản có thể được phát triển và sử dụng phổ biến trong công nghệ chưng cất màng. Nghiên cứu này đã phát triển và thử nghiệm công nghệ DCMD để xử lý nước nhiễm mặn với việc sử dụng màng Polytetrafluoroethylene. Đồng thời, sự thay đổi của nhiệt độ đầu vào cũng được khảo sát nhằm đánh giá ảnh hưởng của nhiệt độ đến thông lượng dòng thấm cũng như chất lượng nước cất. Nhiệt độ đầu vào được thay đổi từ 40 đến 60oC với các thông số cố định bao gồm nhiệt độ làm mát ở 22 ± 1oC, kích thước lỗ rỗng màng 0,45 µm, và nồng độ tổng chất rắn hòa tan đầu vào khoảng 5.000 mg/L. Kết quả khảo sát cho thấy thông lượng dòng thấm tăng lên cùng với sự tăng lên của nhiệt độ nước đầu vào, tuy nhiên khi nhiệt độ quá cao, màng dễ bị suy giảm cấu trúc (bị phá huỷ) và ảnh hưởng đến chất lượng nước cất dòng ra. Trong nghiên cứu này, nhiệt độ nước đầu vào 60oC cho hiệu quả chưng cất cao với thông lượng dòng thấm đạt được 4,47 L/m2h. Hệ thống DCMD thử nghiệm này có khả năng xử lý nước nhiễm mặn đạt hiệu suất xử lý muối cao, trên 99,45%.
Bài viết nhằm làm rõ các khó khăn và sai lầm của học sinh lớp 4 khi học hệ đếm thập phân. Nghiên cứu bắt đầu bằng việc tóm lược nghiên cứu của Gerente (2015) liên quan đến hệ thống các phép đếm; đặc biệt, nghiên cứu đã làm rõ hai đặc trưng: phương diện vị trí và phương diện thập phân của hệ đếm thập phân. Tiếp đó, một nghiên cứu hệ thống dạy học hiện hành qua phân tích sách giáo khoa cho phép dự đoán ba khó khăn liên quan đến sự khác biệt giữa viết và đọc các số, hiểu cách viết chữ số, sử dụng phương diện thập phân để giải toán. Các khó khăn được làm rõ qua một bộ câu hỏi trên 108 học sinh lớp 4. Các sai lầm của học sinh trong thực nghiệm cho thấy học sinh vẫn chưa hiểu rõ hai phương diện nói trên của hệ đếm thập phân.
Nghiên cứu hoạt động khai thác thủy sản được thực hiện từ tháng 7- 12/2017 ở các tỉnh ven biển Đồng bằng sông Cửu long. Kết quả cho thấy nghề lưới rê, lưới kéo, nghề lưới đáy và rập xếp là các nghề khai thác chủ lực chiếm số lượng tàu và sản lượng cao. Tất cả các nghề có thể khai thác quanh năm. Tàu lưới rê có qui mô lớn nhất nhưng sản lượng một năm của tàu lưới kéo lại cao nhất. Nghề lưới rê khai thác có hiệu quả nhất với lợi nhuận đạt cao nhất (298 triệu đồng/năm). Nghề lưới kéo đạt sản sản lượng cao nhất (20,42 tấn/năm) nhưng tỉ lệ cá tạp cao (38,4%) và tỉ suất lợi nhuận đạt thấp nhất (0,45 lần). Mặc dù nghề lưới đáy đạt tỉ suất lợi nhuận cao (1,41 lần) nhưng sản lượng thấp (7,17 tấn/năm) và tỉ lệ cá tạp cao (30,9%), vì vậy nghề này ảnh hưởng đến nguồn lợi thủy sản. Nghề rập xếp có tỉ lệ cá tạp cao (23,8%). Để nghề khai thác phát triển ổn định, cán bộ quản lý thủy sản cần đẩy mạnh công tác quản lý và phát triển nguồn lợi thủy sản, tạo điều kiện cho ngư dân tiếp cận vốn với lãi suất thấp để đầu tư sản xuất, và tập huấn ngư dân biết sử dụng các thiết bị khai thác nhằm tăng hiệu quả khai thác của họ.
Nghiên cứu đã thực hiện điều tra, đánh giá hiện trạng hệ thống cây xanh trong Trường Trung Cấp Nông Lâm Nghiệp Bình Dương. Nghiên cứu kết hợp phương pháp định tính và định lượng để thu thập số liệu; sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên trong phỏng vấn; số liệu được thu thập bằng cách đo, đếm, thống kê từng loài cây. Kết quả nghiên cứu xác định được 43 loài thuộc 27 họ của 18 bộ thực vật trong khuôn viên trường. Hệ thống cây xanh còn thiếu quy hoạch tổng thể cũng như chi tiết, không có cơ sở dữ liệu cây xanh, thiếu đội ngũ chuyên sâu, công tác quản lý chưa khoa học. Vì vậy, vấn đề quan trọng nhất là cần có quy hoạch tổng thể lẫn chi tiết không gian xanh phù hợp với cơ sở hạ tầng nhà trường. Đặc biệt, nhà trường cần xây dựng hệ thống dữ liệu mảng xanh, có một đội ngũ quản lý chuyên sâu, và công tác quản lý cần mang tính khoa học.
Đề tài được thực hiện nhằm phân tích nhu cầu du lịch trải nghiệm của người dân thành phố Cần Thơ. Dữ liệu trong đề tài được thu thập bằng cách khảo sát 200 người dân ở thành phố Cần Thơ nhằm tìm hiểu nhu cầu du lịch trải nghiệm của họ. Đề tài sử dụng hai phương pháp chính là thống kê mô tả và phân tích bảng chéo. Kết quả nghiên cứu cho thấy du lịch trải nghiệm là loại hình du lịch khá mới mẻ và đang là xu hướng của giới trẻ hiện nay. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng chỉ ra các hoạt động mà khách hàng mong muốn được trải nghiệm trong một tour du lịch. Dựa trên kết quả phân tích, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị phù hợp cho các công ty lữ hành để đáp ứng nhu cầu du lịch trải nghiệm của người dân thành phố Cần Thơ tốt hơn trong thời gian tới.
Polychaeta are generally recognized as major group of segmented worms with no common morphological features. They spend most of their life burrowing underground in the U-shape burrow. They were firstly known as the bailt in the fisheries industry all over the world. Through deeper studies, this group has been known with many roles in environmental bioremediation and has been playing important roles in the biodegradable processes. Moreover, they are significant feed in aquaculture and are also applied as a substantial sector in the sustainable aquaculture system – the multi-trophic aquaculture system. This article is to summarize some biological features of polychaeta and their important roles in the aquaculture industry.
The aim of this study was to investigative the effect of different growth stages of Pouzolzia zeylanica plant (young and mature plant) on bioactive compounds content (anthocyanin, flavonoid, polyphenol and tannin); the content of pigments (chlorophyll a, chlorophyll b, total chlorophyll and carotenoids); antioxidant activity through some measurable values such as antioxidant ability index (AAI), ferrous reducing ability power (FRAP) and scavenging capacity 2,2-diphenyl-1-picrylhydrazyl (DPPH) radical; as well as the color parameters of stem and leaves (L*, a*, b* and DE). The results showed that the content of anthocyanin, flavonoid, polyphenol, chlorophyll a, chlorophyll b, total chlorophyll and carotenoids of young plant was higher than that of mature ones, and had statistically significant difference (P0.05). There was no difference in antioxidant capacity between young and mature plants when performed with scavenging free radical (DPPH) or total reducing power (AAI), but there was significant difference when performed with ferrous reducing ability power (FRAP) method. In addition, there were also statistically significant differences in average values of a* and b* between young and mature, stem and leaves, and these two parameters were related to the content of anthocyanin, chlorophyll, carotenoid in Pouzolzia zeylanica plant.
The objectivie of this study was to evaluate adding levels of biochar on methane, carbon dioxide and digestibility of para grass in in vitro incubation. The experiment was arranged in a completely randomized design with three replications of five treatments which are different levels of biochar added to para grass (Brachiaria mutica) at 0, 0.5, 1.0, 1.5, and 2.0%, namely BC0, BC0.5, BC1, BC1.5, and BC2, respectively. The incubation lasted for 72 hours with measurements of gas, methane and carbon dioxide production at 0, 6, 12, 24, 48 and 72 hours. The results showed that the total CH4 production (ml/g) and organic matter digestibility (%) after 72-hour incubation significantly decreased (P
Through the process of studying the Pangasius belly hydrolysate by neutrase enzyme, the belly Pangasius was defated; it showed a kinetic index Vmax = 1.283 μmol tyrosine per minute, Km = 0.377 g protein with reliability R2 = 0.997, enzyme/substrate ratio (E/S) (0.652 mg enzyme/0.975 g protein). Hydrolysis efficiency of tyrosine according to enzyme/substrate 42.69%, ortho-phthaldialdehyde efficiency of the enzyme/substrate was 52.51% at 240 minutes. Subsequently, the belly Pangasius protein hydrolysate was dry-sprayed at 180°C. After drying, the moisture and water activity of dried fish protein hydrolysates were 6.05% and 0.55, respectively. Both commercial peptone and protein hydrolysate from Pangasius belly were used as nitrogen components for Bacillus subtilis growth media at the time from 0 to 72 hours at 37oC and pH = 7, then the powder medium hydrolysed by enzyme neutrase was higher than the commercial peptone medium. In addition, the result from the activity of enzyme protease in the two media for at time of 4, 8, 12, 16, 20, 24 hours, at 37oC and pH = 7 showed that the activity of protease in hydrolysed protein medium from the belly Pangasius was similar to commercial peptone.
Four local male cattle with average live weight of 290 kg were arranged in a Latin-square design with four treatments, which included fresh water hyacinth (WH) replacing rice straw at levels of 0, 25, 50 and 75% in the diets [dry matter (DM) basis]. The aim of this study was to find out the optimum level of fresh WH in cattle diet based on nutrient digestibility, rumen parameters, nitrogen retention and daily weight gain. The multi-nutrient cake containing 323 g CP/kg DM was supplemented in all the diets to adjust the daily crude protein intake to 210 g/100 kg body weight. The results of the study showed that daily DM, organic matter and metabolizable energy intakes were significantly different (P0.05) among the treatments. The daily nitrogen retention and weight gain were 0.482, 0.502, 0.510 and 0.480 g/kgW0.75 and 250, 334, 448 and 403 g for the WH25, WH50, WH75 and WH100 treatments, respectively. The results indicated that feeding the fresh WH to replace rice straw up to 75% in local cattle diet could improve metabolizable energy intake, nutrient digestibility and growth performance. The optimum level of WH replacement to rice straw in the diet was 50%.
Bio-fertilizer formulation from indigenous microorganism communities (IMOCs) is great suitable methods applied widely in the eastern part of world for the extraction of minerals, enhancement of agriculture and waste management although its functionalities have been unknown. The aim of this study was to assess phosphate solubility, indole-3-acetic acid (IAA) biosynthesis and nitrogen fixation efficacy of various IMOCs from different farming systems within Soc Trang province of Vietnam. Phosphate solubilization and synthesis IAA abilities of collected IMOCs were investigated in National Botanical Research Institute's Phosphate (NBRIP) liquid media containing tricalcium phosphate (TCP) as the sole P source. This medium was supplemented with and without tryptophan (100 mg/L) for IAA synthesis capability evaluation while nitrogen fixation ability was tested in liquid N-free Burks media. Besides, nifH functional gene involving in nitrogen fixation was also detected by specific polF/polR primers. The results showed that all surveyed IMOCs were found to solubilize TCP with a various extent, and the maximum amount of P2O5 solubilized was over 2,000 mg/L. In regard to the IAA biosynthesis, all IMOCs were able to biosynthesize considerably IAA with the highest IAA amount of 56.6 mg/L. All surveyed IMOCs had potential in nitrogen fixation when the primer amplified nifH gene successfully from DNA of collected IMO, and eight out of 15 IMOCs proved their nitrogen fixation with quantity varied between 1.0 and 6.5 mg/L N. In conclusion, all collected IMOCs had beneficial functions for plants like phosphate solubility, IAA synthesis and biological nitrogen fixation which can be exploited for enhancing soil fertility and plant growth.
Âm nhạc truyền thống và văn học trung đại Việt Nam có những ảnh hưởng qua lại cho thấy mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Dưới những hình thức, vị trí và vai trò khác nhau, các yếu tố của văn học trung đại đã trở thành một phần chất liệu của các tác phẩm âm nhạc truyền thống. Ngược lại, các yếu tố của âm nhạc truyền thống cũng để lại dấu ấn đậm nhạt với những mức độ khác nhau trong tác phẩm văn học trung đại Việt Nam. Bên cạnh những dấu ấn của âm nhạc truyền thống, văn học trung đại Việt Nam còn thể hiện đánh giá của các tác giả đối với một số loại hình âm nhạc truyền thống, qua đó, không những thể hiện sự nhạy cảm của các nhà văn với âm nhạc mà còn thể hiện sự trân trọng của họ đối với người nghệ sĩ.
Với những tác động tích cực của khởi nghiệp đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, vấn đề định hướng, thúc đẩy và hỗ trợ khởi nghiệp hiệu quả từ nhiều năm qua đã trở thành một trong những nhiệm vụ quan trọng của hệ thống giáo dục ở nhiều quốc gia. Bằng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh và đối chiếu, bài viết sẽ góp phần giới thiệu mô hình giáo dục khởi nghiệp tại Trung Quốc, phản ánh thực trạng và đánh giá khái quát về giáo dục khởi nghiệp ở Việt Nam trong thời gian qua, từ đó đưa ra một số đề xuất đối với giáo dục khởi nghiệp ở Việt Nam thời gian tới.
Bài viết nhằm nghiên cứu ảnh hưởng của mức độ tập trung vốn đến hiệu quả hoạt động công ty, sử dụng số liệu thu thập từ 287 công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn từ 2011 – 2015. Phương pháp generalized method of moments (GMM) được sử dụng để phân tích số liệu. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự tập trung vốn làm gia tăng giá trị thị trường và hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp phi tài chính, tuy nhiên không có bằng chứng thống kê cho thấy tỷ lệ sở hữu cổ phần của hội đồng quản trị có tác động đến giá trị thị trường và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, tỷ lệ sử dụng nợ vay càng cao càng làm giảm giá trị thị trường cũng như hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Ngoài ra, có bằng chứng cho thấy các công ty niêm yết có tốc độ tăng trưởng tốt, quy mô lớn và tỷ lệ đầu tư tài sản cố định hàng năm cao có giá trị thị trường và hiệu quả hoạt động tốt hơn.
Chuyển đổi mô hình sản xuất nông nghiệp vùng ven biển đang diễn ra như một xu hướng tất yếu trong bối cảnh biến đổi khí hậu, cụ thể từ mía sang mô hình chuyên tôm với kỳ vọng lợi nhuận cao hơn. Do vậy, nghiên cứu được thực hiện dựa trên cơ sở phỏng vấn trực tiếp 90 nông hộ nuôi tôm đã chuyển đổi từ mô hình trồng mía tại huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng nhằm đánh giá thực trạng sản xuất, cụ thể phân tích hiệu quả kinh tế của mô hình chuyển đổi này nhằm cung cấp minh chứng cho các nhà hoạch định chính sách. Kết quả nghiên cứu về thực trạng nuôi tôm của nông hộ cho thấy lợi nhuận trung bình đạt 452 triệu đồng/ha/vụ và có sự dao động lớn giữa các nông hộ do rủi ro trong quá trình sản xuất. Hiệu suất kinh tế theo quy mô của nông hộ nuôi tôm là tăng dần. Hiệu quả kinh tế trung bình của nông hộ nuôi tôm là 80,82% và có sự biến động lớn giữa các hộ. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy chi phí mất đi do không đạt hiệu quả về kinh tế hay nói cách khác là chi phí mà nông hộ nuôi tôm có thể giảm trung bình là 102 triệu đồng/ha/vụ.
Đề tài được thực hiện nhằm tìm ra những dòng nấm gây hại trên củ nghệ (Curcuma) được bảo quản làm dược liệu. Quá trình phân lập và nhận diện sơ bộ thông qua đặc điểm hình thái được 17 dòng nấm gây hại từ bốn mẫu nghệ tươi là nghệ Bình Phước, nghệ Indonesia, nghệ Xà Cừ, nghệ Đen và ba mẫu nghệ khô là AGZG030510, AGZG010510, DL020611. Tất cả các dòng nấm được phân lập đều có hại trên thực vật. Mười lăm dòng nấm được tuyển chọn từ mười bảy dòng trên để tiến hành định danh bằng kỹ thuật PCR và giải trình tự vùng gene ITS. Kết quả cho thấy có bảy dòng nấm thuộc chi Fusarium gồm: F. oxysporum, F. chlamydosporum, F. verticilliodes và bốn dòng F. proliferatum; ba dòng thuộc chi Aspergillus: A. flavus, A. terreus, A. tubingensis; hai dòng thuộc chi Penicillium; một dòng Rhizopus oryzae; một dòng Dichotomomyces cejpii và một dòng Coriolopsis polyzona. Từ các dòng nấm đã định danh xác định được giản đồ phả hệ thể hiện độ tương quan di truyền giữa chúng. R. oryzae và C. polyzona thuộc hai nhánh khác vì chúng thuộc hai ngành nấm lớn là Zygomycetes và Basidiomycestes. Các loài nấm còn lại được chia làm hai nhánh có chỉ số bootstrap 87% và cùng thuộc Ascomycetes.
Nghiên cứu nhằm mục tiêu đánh giá ảnh hưởng của chế độ tưới khô ngập luân phiên (AWD) so với ngập liên tục (CF) đến đạm (N) hữu dụng, năng suất hạt trên ruộng lúa và lượng N khoáng hóa trong phòng thí nghiệm. Nghiên cứu được thực hiện (i) trên vùng đất canh tác lúa vào vụ Đông Xuân 2014 tại Hòa Bình, Bạc Liêu và (ii) ủ khoáng hóa N yếm khí và hiếu khí trong phòng sau hai quá trình khô – ngập ngoài đồng. Thí nghiệm được bố trí khối hoàn toàn ngẫu nhiên với 3 nghiệm thức gồm CF, AWD1 (tưới khi mực nước giảm -15cm) và AWD2 (giảm -30cm) và 3 lần lặp lại cho mỗi nghiệm thức. Kết quả cho thấy AWD tiết kiệm khoảng 13 – 18% lượng nước so với CF. Áp dụng AWD2 và AWD1 đạt hàm lượng NH4+ và NO3- cao tương ứng so với CF ở giai đoạn thu hoạch, tuy nhiên không ảnh hưởng đến năng suất lúa. Kết quả ủ khoáng hóa cho thấy lượng N ủ hiếu khí cao hơn yếm khí. Trong đó, AWD1 có sự gia tăng ý nghĩa về NH4+ khoáng hóa sau 21, 28 ngày ủ yếm khí; còn ủ hiếu khí thì sau 7 ngày. Tương tự, áp dụng AWD1 cũng đạt hàm lượng NO3- khoáng hóa cao vào 21 ngày ủ yếm khí và 28 ngày ủ hiếu khí.
Hiện trạng nuôi trồng thủy sản lợ mặn cao triều ở xã Phú Mỹ, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế đã được nghiên cứu từ tháng 4 - 11 năm 2017. Nghiên cứu đã điều tra 33 hộ về nuôi trồng thủy sản, kết hợp kỹ thuật GIS với vị trí ao nuôi từ định vị GPS để tạo ra các bản đồ thuộc tính như: diện tích nuôi, đối tượng nuôi, hình thức nuôi, chăm sóc quản lý và hiệu quả về kinh tế. Kết quả đã xây dựng được các bản đồ về vector tất cả các khía cạnh trên. Đối tượng nuôi chủ yếu là là tôm sú, cua, cá dìa và cá kình với hình thức nuôi ghép chiếm 99,1%. Mỗi đối tượng nuôi có mật độ khác nhau: tôm sú là 1,5 - 5 con/m2, cá và cua dưới 1 con/m2. Các loài này được nuôi 2 - 3 vụ/năm. Công tác xử lý nước vào ao được quan tâm nhưng chưa xử lý triệt để các yếu tố ô nhiễm. Nước thải hầu như không được xử lý. Hiệu quả hoạt động nuôi chưa cao với tỷ suất lợi nhuận từ 0,4 - 1,0.
Đánh giá hiệu quả của 6 dòng thực khuẩn thể (ФBurVL34, ФBurVL39, ФBurAG58, ФBurDT46, ФBurĐT47a, ФBurDT48a) phòng trị bệnh thối hạt do vi khuẩn B. glumae trong điều kiện nhà lưới. Tất cả 6 dòng thực khuẩn thể thể hiện phòng trị bệnh với tỷ lệ hạt bệnh thấp hơn nghiệm thức đối chứng. Trong đó, dòng thực khuẩn thể ФBurDT47a cho hiệu quả phòng trị cao hơn so với các dòng thực khuẩn thể còn lại vào thời điểm 20 ngày sau khi lây bệnh. Ngoài ra, tất cả bốn mật số thực khuẩn thể ФBurDT47a (105 pfu/ml; 106 pfu/ml; 107 pfu/ml; 108 pfu/ml) có thể ngăn chặn bệnh và mật số 108 pfu/ml cho hiệu quả tốt nhất. Kết quả nghiên cứu về chất phụ gia bổ sung vào huyền phù thực khuẩn thể để gia tăng hiệu quả phòng trị bệnh cho thấy ba chất phụ gia (bột cà rốt, bột đậu nành và bột bắp) cho tỷ lệ bệnh thấp hơn so với nghiệm thức chỉ áp dụng thực khuẩn thể không có chất phụ gia.