The inefficient handling of analysis and the negative impact to model performance due to missing values is a common problem within the time series data. This research presents MEOW (Mapping Error Onto Weight), a new approach for time-series data imputation. It adopts a static ensemble approach by employing an adaptive weighting scheme that features both forward and backward projected values. MEOW differs greatly from static ensemble methods because it employs linearly changing weights throughout the entire inferred series, which helps mitigate the issue of being far behind or beyond the predicted values. Thus, this approach improves the estimated values by reducing the overall inference error. Through rigorous experiments using real-world datasets of widely differing characteristics, MEOW was shown to outperform all other known methods and provide the lowest inference error and highest robustness in the greatest number of circumstances.
In numerous industrial production settings, keeping track of the ratio formed by two normally distributed random variables is a task of considerable practical interest. The present work examines how measurement errors influence the behaviour of a pair of one-sided Synthetic control charts designed to monitor such a ratio (referred to here as Synthetic-RZ charts), with the analysis covering both the zero-state and the steady-state average run length (ARL). To incorporate measurement error into the operation of these charts, we adopt a linear covariate error model. We describe, step by step, how the parameters of the underlying model evolve as the process moves from an in-control to an out-of-control state, and we deliberately avoid the restrictive premise that the observed shift magnitude is unrelated to the measurement errors. The run length characteristics of the charts are obtained by means of a Markov chain formulation. A series of numerical experiments makes clear that measurement error erodes the detection capability of the charts. A particularly useful outcome of the investigation is that collecting several measurements on each inspected unit does not constitute an efficient remedy for the adverse influence of measurement error on the performance of the Synthetic-RZ charts.
Nghiên cứu nhằm xác định tỉ lệ lo âu, trầm cảm, căng thẳng và các yếu tố liên quan đến lo âu, trầm cảm, căng thẳng của nhân viên y tế ở một số bệnh viện Dã Chiến tại Bình Dương. Nghiên cứu cắt ngang mô tả trên 385 nhân viên y tế ở một số bệnh viện Dã Chiến tại Bình Dương. Các nhân viên y tế được đánh giá sức khỏe tâm thần theo thang đo DASS-21, kết quả chỉ ra rằng tỷ lệ nhân viên y tế lo âu là 71,1%, trầm cảm là 60,3% và căng thẳng là 41%. Phân tích tương quan Pearson cho thấy yếu tố liên quan đến tình trạng lo âu ở nhân viên y tế là giới tính, tuổi (p<0,05). Tác động của dịch COVID-19 đến các nhân viên y tế cao, tỷ lệ nhân viên y tế lo âu là 71,1%, trầm cảm là 60,3% và căng thẳng là 41%. Có mối liên quan giữa tình trạng lo âu với giới tính và độ tuổi của nhân viên y tế. Các nhà quản lý cần xây dựng kế hoạch, giải pháp, chương trình can thiệp thích hợp để giảm bớt tình trạng lo âu, trầm cảm, căng thẳng của nhân viên y tế tuyến đầu tham gia phòng chống dịch COVID-19.
Nghiên cứu này nhằm khám phá hiện tượng này bằng cách xem xét mức độ nghiêm trọng của bệnh tật hoặc chấn thương của bệnh nhân và đánh giá chủ quan về tình hình tài chính của bệnh nhân và gia đình sau khi trả phí điều trị ảnh hưởng đến quyết định cuối cùng về quá trình điều trị. Bài nghiên cứu sử dụng Bayesian Mindsponge Framework (BMF) dựa trên việc khảo sát 1042 bệnh nhân Việt Nam. Kết quả là bệnh nhân mắc bệnh hoặc thương tật càng nặng thì họ càng có xu hướng bỏ điều trị nếu họ cho rằng việc trả phí điều trị ảnh hưởng nặng nề đến tình hình tài chính của gia đình họ. Đặc biệt, cứ 4 bệnh nhân nặng nhất thì chỉ có 1 người quyết định tiếp tục điều trị mặc dù việc này sẽ đẩy bản thân và gia đình vào cảnh túng quẫn. Dựa trên các kết quả nghiên cứu, một số khuyến nghị cho các nhà hoạch định chính sách thực hiện và điều chỉnh chính sách của họ (ví dụ: bảo hiểm y tế) để giảm thiểu khả năng bệnh nhân đưa ra quyết định “gần như tự sát” và cải thiện bình đẳng xã hội trong hệ thống chăm sóc sức khỏe.
In this paper, we present a new approach for Vietnamese text error correction. A corrector consists of a Transformer to encode the input sequence, and sequence tag-gers to perform both error detection and correction. For the taggers, we apply special tokens to process insertions, deletions, and substitutions. The correction is performed in many steps repeatedly until the stopping criteria are met. At each step, we just correct the source sentence with minimal spans of tokens. These solutions make two advantages including 1) detecting and correcting various error types of Vietnamese texts, and 2) not generating uncontrollable outputs as generative models. As a result, our approach has yielded remarkable performance. On realistic dataset, our proposal model archives 79.5 % errors detected and 62.7% errors corrected; the highest SacreBLEU score is 86.10, that is a promising result.
Trong bài báo này, chúng tôi nghiên cứu sự ảnh hưởng của tỷ lệ Ti/Zr lên đặc tính cấu trúc, đặc tính ưa nước và tính tương thích tế bào của màng mỏng TiZrN được chế tạo bằng phương pháp phún xạ. Tất cả các màng TiZrN đều được lắng đọng ở nhiệt độ phòng dưới áp suất 5 mtorr sử dụng nguồn phún xạ một chiều. Sự thay đổi tỷ lệ Ti/Zr bằng cách thay đổi công suất phún xạ nguồn Zr đã làm thay đổi hình thái học bề mặt, độ kết tinh và đặc tính ưa nước của các màng TiZrN. Khi tăng công suất Zr, độ kết tinh và độ ráp bề mặt đã giảm rõ rệt. Góc dính ướt đã tăng từ 65° lên 81°, độ ráp bề mặt giảm từ 5,53 nm xuống 1,42 nm. Tất cả các màng đều cho thấy khả năng tương thích với tế bào BHK khá tốt. Sau 72 giờ nuôi cấy, các tế bào BHK đã phát triển và bám lên hầu hết các vị trí trên bề mặt của các màng TiZrN. Điều này cho thấy rằng, các màng TiZrN rất có tiềm năng cho ứng dụng trong cấy ghép y sinh.
Honey bees (Apis mellifera) play a very important role in agriculture thanks to their ability of plants' pollination. However, the number of honey bees decreases every year because of the effects of climate change, environmental pollution, and so on. As a result, finding a useful solution to this problem has been more and more attracting scientists and companies. Applying machine learning (ML) methods based on audio data recording inside the hive is a promising solution to detect changes in the beehive. In this study, we investigate the genetic programming (GP) method, one of the powerful ML methods, for identifying bee sound data. We also compare our proposal with the results from a previous study. The experiment results show that with the right configuration of parameters, GP can achieve better results than well-known methods for the task of classifying bee sound samples.
Trong nghiên cứu này, gỗ Keo lai trước khi sơn phủ Polyurethane (PU), đã được xử lý ngâm tẩm với hỗn hợp của 1%, 2% và 4% dung dịch keo nhựa thông và 3% đồng sunfat, sau đó được đặt trong môi trường chiếu xạ tia UV. Ảnh hưởng của keo nhựa thông-đồng đến sự thay đổi màu sắc và độ bóng bề mặt của gỗ đã xử lý và sơn phủ sau khi chiếu tia UV cũng được nghiên cứu. Kết quả đã cho thấy: sử dụng keo nhựa thông đơn lẻ hay kết hợp với đồng sunfat để xử lý cho gỗ Keo lai đều không ảnh hưởng đến khả năng thẩm thấu của hợp chất bảo quản vào trong gỗ và cũng không ảnh hưởng đến màu sắc và độ bóng của màng sơn trên bề mặt gỗ đã xử lý trước khi chiếu UV. Tuy nhiên, gỗ sau khi được xử lý bởi hỗn hợp keo nhựa thông-đồng có thể nâng cao được khả năng ổn định màu sắc của màng sơn trên bề mặt gỗ dưới tác động của tia UV, nhưng không làm ảnh hưởng đến độ bóng của màng sơn. Khi nồng độ dung dịch keo nhựa thông tăng lên thì độ bền màu của màng sơn có xu hướng giảm nhưng không đáng kể, đồng thời nó cũng không ảnh hưởng đến độ bóng của màng sơn trên bề mặt gỗ. Việc sử dụng keo nhựa thông-đồng làm chất bảo quản để ngâm tẩm cho gỗ không những có thể giảm thiểu được những nguy hại cho môi trường mà còn có thể cải thiện được khả năng chống chịu tia UV của màng sơn trên bề mặt gỗ đã được xử lý.
Nghiên cứu nhằm mô tả đặc điểm huyết học của bệnh nhân lơ xê mi kinh dòng hạt tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên. Phương pháp mô tả cắt ngang thực hiện ở 31 bệnh nhân được chẩn đoán xác định tiêu chuẩn chẩn đoán lơ xê mi kinh dòng hạt theo Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị một số bệnh ung thư năm 2020 theo Quyết định số 1514/QĐ-BYT và theo WHO năm 2010. Kết quả cho thấy số lượng hồng cầu có giá trị trung vị là 3,1 (IQR = 2,96 – 3,28) (T/L), lượng huyết sắc tố là 92,0 (IQR = 83,0 – 103,0) (g/L) và số lượng tiểu cầu là 145 (IQR = 66-240) (G/L) đều giảm so với bình thường. Tỷ lệ bệnh nhân có huyết sắc tố trung bình giảm dưới 100g/L là 54,8%, số lượng bệnh nhân có lượng tiểu cầu dưới 100G/L là 37,8%. Số lượng bạch cầu tăng cao 57,3 (IQR = 29,4 – 96,8) G/L, số lượng bạch cầu đa nhân trung tính là 48,2 (IQR = 37,2 – 70,3) G/L. Không xuất hiện tế bào BLAST trong máu ngoại vi. Tỷ lệ % tế bào BLAST (bao gồm cả nguyên tuỷ bào và tiền tuỷ bào) là 12%, số bạch cầu đa nhân là 34 (IQR = 30 – 40). Nguyên hồng cầu là 7,0 (IQR = 4,0 – 8,0). Tỷ lệ % bạch cầu đa nhân trung tính, nguyên hồng cầu trong tuỷ xương giảm.
Việt Nam là một trong những quốc gia có lượng tiêu thụ nhựa cao hàng đầu thế giới tuy nhiên vấn đề xử lý rác thải nhựa vẫn còn nhiều hạn chế. Nghiên cứu này nhằm mục đích là tìm hiểu mức độ nhận thức và hành động của người dân đối với việc xử lý rác thải nhựa và nhu cầu đóng góp (willingness to pay - WTP) của họ để góp phần nâng cao chất lượng xử lý rác thải nhựa ở miền Bắc Việt Nam. Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp định giá ngẫu nhiên (contingent valuation method - CVM) tiến hành khảo sát 730 hộ gia đình bằng phương pháp online trên địa bàn 8 tỉnh miền Bắc Việt Nam. Kết quả cho thấy đa số người dân (hơn 60% số hộ khảo sát) quan tâm và nhận thức khá rõ về tác hại của ô nhiễm rác thải nhựa, 64.25% số người tham gia đồng ý đóng góp vào quỹ này. Mức chi trả tự nguyện (WTP) của người dân cho quỹ xử lý rác thải nhựa được ước tính dao động từ 677,599 đến 676,158 nghìn đồng/hộ gia đình/tháng. Dựa trên các kết quả nghiên cứu, một số khuyến nghị chính sách đưa ra nhằm nâng cao chất lượng xử lý rác thải nhựa trên địa bàn miền Bắc Việt Nam.
The quality of water is determined by its components, called the water parameters. The effect of each parameter on the water quality is different. To assess the water quality, sampling and measuring the value of these parameters are required. The water quality index (WQI) is a special indicator that integrates the value of many parameters into a single value. This value can be used to reflect effectively the quality of water. In this study, we present a survey on the application of machine learning (ML) method to estimate the WQI. A case study is also conducted to illustrate the use of the ML algorithm in the context.
Sự cạn kiệt của nguyên liệu hóa thạch (Sơn, 2017) cùng với nhận thức ngày càng tăng về tác động của việc tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch đối với môi trường toàn cầuđã thúc đẩy các hoạt động nghiên cứu tập trung vào các nguồn năng lượng thay thế (hay năng lượng tái tạo). Bên cạnh đó, nhu cầu về sử dụng năng lượng và các dịch vụ liên quan của nó để đáp ứng sự phát triển kinh tế và xã hội của con người, phúc lợi và sức khỏe cũng đang ngày một gia tăng. Do đó, sử dụng năng lượng tái tạo chính là cách tiếp cận tuyệt vời để giảm thiểu biến đổi khí hậu và đáp ứng nhu cầu năng lượng bền vững cho hiện tại và thế hệ tương lai. Bài viết này sẽ đánh giá các nguồn năng lượng tái tạo qua 2 khía cạnh bền vững và giúp giảm thiếu biến đổi khí hậu, xem xét xem đâu là những cơ hội và thách thức mà nguồn năng lượng tái tạo mang lại. Từ đó đề xuất một số giải pháp để đạt được mục tiêu của năng lượng tái tạo.
Bài viết này sẽ đánh giá các nguồn năng lượng tái tạo qua 2 khía cạnh bền vững và giúp giảm thiếu biến đổi khí hậu, xem xét xem đâu là những cơ hội và thách thức mà nguồn năng lượng tái tạo mang lại. Từ đó đề xuất một số giải pháp để đạt được mục tiêu của năng lượng tái tạo.
Nghiên cứu nhằm mô tả mối liên quan giữa đặc điểm siêu âm doppler năng lượng và phân độ Mauro mondellli của bệnh nhân có hội chứng ống cổ tay. Phương pháp mô tả cắt ngang thực hiện ở 36 bệnh nhân với 49 cổ tay có hội chứng ống cổ tay được chẩn đoán hội chứng ống cổ tay theo tiêu chuẩn của Viện Quốc gia Hoa Kỳ về sức khỏe và an toàn nghề nghiệp năm 1993 thấy tỷ lệ bệnh nhân nữ/nam= 8/1. Tuổi trung bình là 54,4 ±12,1. Phân độ lâm sàng: 48,9% ống cổ tay bệnh ở giai đoạn trung bình, 32,7% ở giai đoạn nặng. Có 57,1% ống cổ tay có dấu hiệu Notch (+), dấu hiệu Notch đảo ngược (+) ở 4,1% ống cổ tay. Dấu hiệu tăng sinh mạch gặp ở 55,1% ống cổ tay. Diện tích dây thần kinh giữa đầu gần ống cổ tay trung bình 11,1± 1,9 ở bên tay thuận và 11,7±1,4 ở bên không thuận. Bệnh nhân có phân độ Mauro mondellli nhẹ có phân độ siêu âm là trung bình, nặng nhiều hơn phân độ siêu âm bình thường, nhẹ. Có mối liên quan giữa các chỉ số của dây thần kinh giữa (diện tích dây thần kinh giữa đầu gần ống cổ tay, hiệu số diện tích dây thần kinh giữa) với phân độ M. Mondelli.