In this study, we report the development of a simple and cost-effective approach for fish sauce quality control. This is based on simultaneous determination of histamine and tyrosine in fish sauce using capillary electrophoresis (CE) coupled with contactless conductivity detection (C4D). Considerations for the use of purpose-made CE-C4D for food quality control in Vietnam are provided. The best detection limit (LOD) achieved was 5mg/kg for histamine and 6mg/kg for tyramine using the optimized background electrolyte (BGE) composed of 20mM (N-(2-Hydroxyethyl)piperazine-N’-(2-ethane-sulfonic acid]) (HEPES) / 10 mM L-Histidine (His), 5% methanol (MeOH) at pH 6.6. Excellent agreement between the results from CE-C4D and those from the confirmation method (HPLC-PDA for histamine and HPLC-FLD for tyramine) was achieved for different fish sauce samples, with their result deviations less than 10% for all tested compounds.
Mục tiêu: Đánh giá tình trạng di căn hạch nách và các yếu tố liên quan dự báo tình trạng di căn hạch nách của các bệnh nhân ung thư vú giai đoạn I –IIIA được phẫu thuật tại Bệnh viện Bạch Mai. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu, mô tả cắt ngang trên 37 bệnh nhân ung thư vú giai đoạn I –IIIA được phẫu thuật cắt toàn bộ tuyến vú hoặc bảo tồn có vét hạch nách tại bệnh viện Bạch Mai từ tháng 01/2021 đến tháng 01/2024. Kết quả: Đa số nhóm đối tượng nghiên cứu có tuổi ≥ 40 (83,7%). Khối u kích thước chủ yếu ở giai đoạn T1, T2 (94,6%), nằm ở vị trí ¼ trên ngoài (67,6%), số hạch vét được sau phẫu thuật chủ yếu ít hơn 10 hạch, chiếm tỷ lệ 54,0%. Thể mô bệnh học hay gặp nhất là Carcinoma xâm nhập type NST (89,2%) với độ mô học chủ yếu là độ II 70,2(%). Đa số khối u chưa xâm nhập mạch máu, mạch bạch huyết và thần kinh (90,9%, 78,4% và 95,5%). Có 67,6% khối u có tình trạng ER(+), 64,9% có PR(+), 43,2% bộc lộ quá mức Her-2 và đa số có chỉ số Ki67 cao (59,5%. T)ỷ lệ di căn hạch nách là 43,0% . Đánh giá hạch nách bằng lâm sàng có độ nhạy và độ đặc hiệu thấp, tỷ lệ âm tính giả cao. Yếu tố ảnh hưởng đến di căn hạch nách là kích thước u với p < 0,05. Kết luận : Tỷ lệ di căn hạch nách trên các bệnh nhân UTV giai đoạn I –IIIA là 43,0%, trong đó có 24,3% số bệnh nhân di căn 1-3 hạch và 18,7% bệnh nhân di căn từ 4 hạch trở lên. Kích thước u là yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng di căn hạch nách với p=0,045.
Mục tiêu nghiên cứu: (1) Đánh giá tình trạng di căn hạch ở bệnh nhân ung thư thực quản được phẫu thuật tại Bệnh viện Bạch Mai từ 2020 đến năm 2024; (2) Đánh giá một số yếu tố liên quan với tỉ lệ di căn hạch của bệnh nhân ung thư thực quản. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang 65 trường hợp được chẩn đoán xác định ung thư thực quản được phẫu thuật tại Bệnh viện Bạch Mai từ năm 2020 đến năm 2024. Kết quả: Độ tuổi trung bình của bệnh nhân nghiên cứu là 57,5 ± 8,18 tuổi. Có 64 bệnh nhân nam, chiếm tỉ lệ 98,5%. Tỉ lệ nam/ nữ là 64/1. Trong nghiên cứu của chúng tôi có 40 bệnh nhân (61,5%) có thể mô bệnh học là ung thư biểu mô vẩy không sừng hóa. Đối với khối u, số bệnh nhân có giai đoạn sớm (Tis và T1) có 28 bệnh nhân chiếm 43,1% và ở giai đoạn T3 là 33 bệnh nhân, chiếm 50,8%. Kích thước khối u dưới 3cm chiếm 58,5%. Tỉ lệ di căn hạch của chúng tôi nghiên cứu được là 38,5% với 25/65 bệnh nhân nghiên cứu. Trong đó di căn hạch giai đoạn N1 chiếm tỉ lệ cao nhất với 20% (13/65) và thấp nhất là giai đoạn N3 với 3,1% (2/65). Tình trạng di căn hạch ở bệnh nhân ung thư thực quản giai đoạn chưa có di căn xa phụ thuộc vào các yếu tố như kích thước khối u, giai đoạn của khối u và tình trạng xâm lấn mạch bạch huyết, thần kinh của khối u với p< 0,05. Kết luận: Tỉ lệ di căn hạch trong ung thư thực quản chiếm 38,5% và tỉ lệ này phụ thuộc vào các yếu tố như kích thước, giai đoạn và mức độ xâm lấn mạch bạch huyết, thần kinh của khối u.
Mục tiêu nghiên cứu: Xác định tỷ lệ di căn hạch và mối liên quan giữa tình trạng di căn hạch với một số yếu tố ở bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ được phẫu thuật nội soi cắt thuỳ phổi và nạo vét hạch. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả, hồi cứu trên 74 trường hợp được chẩn đoán xác định ung thư phổi không tế bào nhỏ và được phẫu thuật nội soi cắt thuỳ phổi, nạo vét hạch tại bệnh viện Bạch Mai giai đoạn 01/2023 – 08/2024. Kết quả: Bệnh gặp nhiều hơn ở nhóm bệnh nhân trên 65 tuổi (41,9%); tuổi trung bình của nhóm bệnh nhân là 61,8 ± 9,4 tuổi. Đa số là bệnh nhân nam (66,2%). Ung thư phổi không tế bào nhỏ gặp nhiều hơn ở phổi phải (62,2%), trong đó phần lớn là u ở vị trí thuỳ trên phổi phải (32,4%). Phần lớn u có kích thước ≤ 3cm (56,7%), loại biêu mô tuyến (63,5%) và không có xâm lấn màng phổi (63,5%). 21/74 bệnh nhân có di căn hạch (28,4%), trong đó đa số bệnh nhân di căn hạch chặng N1 (18,9%) và tỷ lệ di căn hạch N2 là 9,5%. Tỷ lệ di căn hạch ở nhóm bệnh nhân từ 55 – 65 tuổi cao hơn hẳn so với nhóm bệnh nhân dưới 55 tuổi (28,6%) và trên 65 tuổi (12,9%) với p < 0,05. Tỷ lệ di căn hạch tặng tỷ lệ thuận với kích thước u, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p = 0,019. Tình trạng di căn hạch không phụ thuộc vào các yếu tố giới tính, vị trí u, mức độ xâm lấn màng phổi và loại mô bệnh học. Kết luận: Tỷ lệ di căn hạch là 28,4%, trong đó di căn hạch N1 là 18,9% và di căn hạch N2 là 9,5%. Tình trạng di căn hạch có liên quan với độ tuổi và kích thước khối u nguyên phát với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05). Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ di căn hạch theo các đặc điểm như giới tính, vị trí u nguyên phát, mức độ xâm lấn màng phổi và loại mô bệnh học.
Mục tiêu nghiên cứu: Nhận xét tình trạng di căn hạch và một số yếu tố liên quan của bệnh nhân ung thư dạ dày được phẫu thuật triệt căn tại Bệnh viện Bạch Mai. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hồi cứu trên 104 bệnh nhân ung thư dạ dày đã được phẫu thuật triệt căn tại bệnh viện Bạch Mai từ 1/2023 đến 1/2024. Kết quả: Trong nghiên cứu của chúng tôi trên 104 bệnh nhân ung thư dạ dày cho thấy có 70 bệnh nhân là nam (67,3%), 34 bệnh nhân là nữ (32,7%), thường gặp ở lứa tuổi trung niên, đặc biệt nhóm trên 60 tuổi (chiếm 75%), với độ tuổi trung bình 64,9 ± 11,4. 100% bệnh nhân có mô bệnh học là ung thư biểu mô tuyến (100%). Phương pháp phẫu thuật thường được áp dụng là cắt dạ dày bán phần (chiếm 87,5%) so với 12,5% bệnh nhân cắt dạ dày toàn bộ. Trong số 104 bệnh nhân, có 72 bệnh nhân có di căn hạch (chiếm 69,2%), trong đó giai đoạn N3 chiếm tỉ lệ cao nhất (29,7%). Trong số các bệnh nhân Tis, T1 thì không có bệnh nhân nào di căn hạch. Nhưng với nhóm T2, tỷ lệ di căn hạch là 11/17 (64,7%), với nhóm T3 là 19/26 (73,1%), với nhóm T4 là 9/11 (81,8%). Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p=0,001. Tỷ lệ di căn hạch ở nhóm biệt hóa kém là 45/53 bệnh nhân, chiếm 84,9%, cao hơn hẳn so với nhóm biệt hóa vừa (26/49 bệnh nhân, chiếm 53,1%). Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p=0,002. Kết luận: Tỉ lệ di căn hạch là 69,2% (72/104 bệnh nhân), trong đó N1 là 13,5%; N2 là 26,0%; N3 là 29,7%. Mức độ xâm lấn khối u, thể mô bệnh học, mức độ biệt hóa của tế bào là các yếu tố liên quan đến tình trạng di căn hạch. Mức độ xâm lấn càng sâu, độ biệt hóa tế bào càng kém thì tỷ lệ di căn hạch vùng càng cao.
BACKGROUND:Comprehensive genomic profiling (CGP) is a time- and tissue- efficient method to help guide precision oncology. To enhance the clinical utility of CGP, we investigated the performance of a novel strategy integrating tumor DNA and mRNA profiling, together with liquid biopsy ctDNA monitoring. METHODS:Genomic DNA and mRNA simultaneously extracted from 604 archived tissue samples of 12 cancer types were used. Tumor DNA was subjected to targeted sequencing using a 504-gene panel with high-density probes (HDP), and shallow whole genome sequencing to profile genomic biomarkers. mRNA transcriptome profiling was performed to further capture fusion variants, and to predict tissue of origin (TOO) using our ensemble model OriCUP, an algorithm trained on 9889 samples and independently validated on 731 samples. In a cohort of 55 metastatic lung cancer patients, longitudinal plasma ctDNA was analyzed using a hybrid tumor-informed and tumor-agnostic approach to predict progression-free survival (PFS). RESULTS:Among all biomarkers, DNA sequencing using HDP achieved higher sensitivity than the standard panel design to identify copy number variations at chromosome-, gene-, and exon- levels. The detection rate of fusion variants using DNA sequencing alone was 20% lower than mRNA sequencing in reference samples, while the combination of both methods was essential to maximize fusion detection in clinical FFPE samples. For TOO, our OriCup model achieved prediction accuracy of 87.7% for primary tumors and 81.4% for metastatic tumors. In 55 lung cancer patients, ctDNA profiling identified additional 11.5% tumor-agnostic actionable and resistance mutations. Patients having more than 50% ctDNA decrease from baseline were classified as molecular responders and showed significantly longer PFS than those classified as molecular non-responders (HR = 9.42, 95% CI: 3.33-26.67, p < 0.0001, 12-month PFS: 95.5% vs. 31.7%). CONCLUSIONS:Comprehensive genomic and transcriptomic profiling could reliably unveil genetic details not provided by DNA-only CGP. The integration of ctDNA detection further helped detect tumor-agnostic mutations and monitor treatment response.
Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá kết quả điều trị bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan bằng Lenvatinib tại Bệnh viện Bạch Mai. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả, hồi cứu trên 47 trường hợp được chẩn đoán xác định ung thư biểu mô tế bào gan được điều trị bằng Lenvatinib tại Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu - Bệnh viện Bạch Mai giai đoạn 03/2022 – 06/2025. Kết quả: Bệnh gặp nhiều ở nhóm tuổi từ 60-79 (53,2%); đa số là nam giới (89,4%). Phần lớn mắc viêm gan virus B, chiếm tỷ lệ 80,9%. Tỷ lệ bệnh nhân có huyết khối tĩnh mạch cửa là 23,4%. Tỷ lệ đáp ứng khách quan (ORR) là 51,1%, tỷ lệ kiểm soát bệnh (DCR) là 89,4% theo tiêu chí mRECIST 1.1. Thời gian sống thêm bệnh không tiến triển (PFS) trung vị là 6,8 ± 1,0 tháng. Các yếu tố ảnh hưởng đến PFS bao gồm AFP trước điều trị và sự xâm lấn mạch máu lớn. Trung vị thời gian sống thêm toàn bộ là 10,3 ± 0,8 tháng. Kết luận: Ung thư biểu mô tế bào gan chủ yếu gặp ở nam giới, tiền sử mắc viêm gan virus B. Đa số bệnh nhân trong nghiên cứu có thể trạng tốt, chức năng gan còn bù. Lenvatinib là thuốc hiệu quả và khá an toàn trong điều trị ung thư biểu mô tế bào gan
INTRODUCTION:The role of afatinib in the first-line treatment of EGFR-mutant advanced non-small cell lung cancer (NSCLC) patients has been proven through clinical trials and real-world studies. However, additional data on the effectiveness of afatinib in patients with brain metastases are lacking. METHODS:EGFR-mutant NSCLC patients with brain metastases were retrospectively reviewed across nine cancer centers in Vietnam from April 1, 2018 to June 1, 2022. The primary endpoints included central nervous system progression-free survival (CNS-PFS) and overall survival (OS). The secondary endpoints were the objective response rate (ORR) and CNS-ORR. RESULTS:Among 87 enrolled patients, 21.8%, 17.2%, and 60.9% received whole-brain radiation, gamma knife, and no locoregional therapy, respectively. With a median follow-up of 32.2 months for CNS-PFS and 35.3 months for OS, the median CNS-PFS and OS were 17.9 and 29.9 months, respectively. In multivariate analysis, patients receiving whole-brain radiation had significantly shorter CNS-PFS than those untreated with local therapy (16.1 vs. 22.6 months, p = 0.019), but not translating to an inferior OS. Furthermore, both the CNS-PFS and OS of patients with uncommon mutations were significantly worse than those of patients with Del19 (11.3 vs. 24.2 months, p = 0.013 and 17.7 vs. 34.0 months, p = 0.003, respectively). Univariate and multivariate analyses showed that a lower afatinib starting dose did not significantly affect CNS-PFS or OS. The CNS-ORR and ORR were 77.4% and 71.3%, respectively. CONCLUSION:In our real-world study, afatinib showed encouraging effectiveness in Vietnamese patients with EGFR-mutant NSCLC and brain metastases at baseline.
Mục tiêu: Nghiên cứu đánh giá hiệu quả điều trị bệnh nhân ung thư tuyến giáp thể biệt hóa bằng I-131 tại bệnh viện Ung bướu Cần Thơ. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu trên 257 bệnh nhân ung thư tuyến giáp thể biệt hóa sau phẫu thuật và được điều trị I-131 tại bệnh viện Ung bướu Cần Thơ từ tháng 7/2016 đến tháng 6/2022. Kết quả: Tỉ lệ nữ mắc bệnh cao gấp 11 lần nam giới, tuổi trung bình là 44,5 ± 11,8. Kết quả mô bệnh học chiếm cao nhất là ung thư biểu mô tuyến giáp thể nhú. Giai đoạn bệnh sau phẫu thuật chiếm tỉ lệ cao nhất là giai đoạn I. Tỉ lệ đáp ứng hoàn toàn sau điều trị là 75,9%, tỉ lệ bệnh tiến triển là 1,5% với liều điều trị trung vị là 100mCi. Thời gian sống thêm toàn bộ là 86,7 ± 0,3 tháng. Tỉ lệ sống thêm 5 năm của nhóm nghiên cứu là 99,6%.
Objectives: Prostate cancer features have been linked to mutations in the BRCA1 and BRCA2 genes. Assessing the status of BRCA1 and BRCA2 gene carriers in patients contributes to accurate diagnosis, disease prognosis as well as appropriate targeted treatment methods. This study evaluated the prevalence of these mutations in Vietnamese prostate cancer patients and assessed their correlation with clinical features. Methods: A cross-sectional study was performed at Bach Mai Hospital between 2021 and 2022. We enrolled 60 prostate cancer patients. Next-generation gene sequencing was used to identify BRCA1 and BRCA2 mutations in formalin-fixed paraffin-embedded samples. Patients with somatic gene mutations underwent further germline mutation analysis. We also reported a case series following the British Medical Journal guidelines, detailing the clinical course of such patients. Results: Patients with BRCA2 pathogenic variants revealed no BRCA1 mutations, although different mutations were identified. Two patients showed germline mutations. Patients with BRCA mutations were younger (average age: 66.2 years) than those with non-mutations (72.1 years) at diagnosis. High Gleason scores, lymph node metastases, and distant metastases were more prevalent in the mutation group. One patient with germline BRCA mutation had aggressive prostate cancer and early resistance to non-PARPi (Poly ADP-ribose polymerase inhibitors) treatments. Conclusions: We provide preliminary data on BRCA mutations in Vietnamese patients with prostate cancer, suggesting that BRCA2 mutations correlate with aggressive disease characteristics. Our findings further elucidate the clinical implications of these mutations.
Mục tiêu: Nghiên cứu đánh giá một số biến chứng sau điều trị ở bệnh nhân ung thư tuyến giáp thể biệt hóa tại bệnh viện Ung bướu Cần Thơ. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu trên 257 bệnh nhân ung thư tuyến giáp thể biệt hóa sau phẫu thuật và điều trị I-131 tại bệnh viện Ung bướu Cần Thơ từ tháng 7/2016 đến tháng 6/2022. Kết quả: Tỉ lệ nữ mắc bệnh cao gấp 11 lần nam giới, tuổi trung bình là 44,5 ± 11,8. Kết quả mô bệnh học chiếm cao nhất là ung thư biểu mô tuyến giáp thể nhú. Giai đoạn bệnh sau phẫu thuật chiếm tỉ lệ cao nhất là giai đoạn I. Biến chứng sau phẫu thuật cao. Biến chứng sớm thường gặp sau điều trị I-131 là khô miệng (25,3%) và viêm dạ dày (22,2%). Chưa phát hiện biến chứng muộn do điều trị I-131
Malignant peripheral nerve sheath tumors (MPNSTs) are uncommon and aggressive soft-tissue sarcomas. They are difficult to manage due to their aggressiveness and limitations in early diagnosis and management. Complete surgical resection with or without adjuvant radiotherapy is the most effective treatment for patients with primary disease, whereas in those with metastatic disease, cytotoxic chemotherapy is beneficial. We herein present the case of a woman who complained of severe lower back pain. Computed tomography and magnetic resonance imaging revealed multiple bone and lung lesions. The patient underwent a bone lesion biopsy and was diagnosed with an advanced MPNST, which was appropriately treated with systemic chemotherapy.
Mục tiêu: Nghiên cứu mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và giai đoạn sau phẫu thuật ở bệnh nhân ung thư tuyến giáp thể biệt hóa tại bệnh viện Ung bướu Cần Thơ. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu trên 257 bệnh nhân ung thư tuyến giáp thể biệt hóa điều trị I-131 tại bệnh viện Ung bướu Cần Thơ từ tháng 7/2016 đến tháng 6/2022. Kết quả: Tỉ lệ nữ mắc bệnh cao gấp 11 lần nam giới, tuổi trung bình là 44,5 ± 11,8. Triệu chứng lâm sàng thường gặp nhất là sờ thấy khối u vùng cổ. Kết quả mô bệnh học chiếm cao nhất là ung thư biểu mô tuyến giáp thể nhú. Giai đoạn bệnh sau phẫu thuật chiếm tỉ lệ cao nhất là giai đoạn I. Trung vị nồng độ Tg sau phẫu thuật là 6,6 ng/ml. Có 1.6% bệnh nhân thay đổi giai đoạn sau điều trị I-131
Mục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị ung thư tuyến giáp thể biệt hóa di căn phổi điều trị I-131 tại Bệnh viện Ung bướu Nghệ An. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hồi cứu kết hợp tiến cứu 45 bệnh nhân ung thư tuyến giáp thể biệt hóa di căn phổi được chẩn đoán bằng xạ hình toàn thân và đánh giá kết quả điều trị bằng I-131 tại khoa Y học hạt nhân, bệnh viện Ung bướu Nghệ An từ tháng 1/2018 đến 5/2024. Kết quả: Bệnh nhân UTTG thể biệt hóa di căn phổi có tuổi trung bình là 47,26 ± 15,75 tuổi, tỷ lệ nam nữ là 1/2,5. Thể giải phẫu bệnh chiếm chủ yếu là thể nhú với tỷ lệ 93,3%. Thyroglobulin lúc ngừng thuốc trung bình là 112,32 ± 154,7 ng/ml. Tổn thương trên xạ hình toàn thân với I-131 chủ yếu dạng tăng hoạt tính phóng xạ lan tỏa với tỷ lệ 77,8%. Bệnh nhân được điều trị nhiều lần với I-131, trung bình 3,75 lần và có tổng liều điều trị tích lũy 540 ± 193,73 mCi (150-970). Tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn với I-131 chiếm 17,8%. Tỷ lệ đáp ứng không hoàn toàn và không xác định lần lượt là 64,44%, 17,8%. Tuổi và thyroglobulin kích thích là hai yếu tố có giá trị trong tiên lượng với đáp ứng điều trị I-131 ở bệnh nhân UTTG thể biệt hóa di căn phổi. Kết luận: Bệnh nhân UTTG thể biệt hóa di căn phổi được điều trị I-131 taị bệnh viện Ung bướu Nghệ An có tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn là 17,8, tỷ lệ đáp ứng không hoàn toàn, không xác định lần lượt là 64,44% và 17,8%.
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm hình ảnh 18F-FDG-PET/CT và nhận xét mối tương quan của hình ảnh 18F-FDG-PET/CT với một số thể mô bệnh học u lympho ác tính không Hodgkin. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, hồi cứu kết hợp tiến cứu trên 286 bệnh nhân U lympho ác tính không Hodgkin mới được chẩn đoán và điều trị tại Bệnh viện Bạch Mai. Kết quả: Tổn thương hạch ở 84,3%, tổn thương ngoài hạch ở 54,5%. Bệnh nhân chỉ tổn thương hạch chiếm 45,5%, chỉ tổn thương ngoài hạch chiếm 15,7% và tổn thương hỗn hợp cả hạch và ngoài hạch chiếm 38,8%. Tổn thương ngoài hạch hay gặp là xương (chiếm 18,4%), amidan (17,7%), lách (11,7%), vòm họng (8,5%), dạ dày (8,2%), hốc mũi (7,8%), phổi (5,3%), tuyến thượng thận (4,3%), đại trực tràng (3,9%), gan (3,7%), phần mềm (2,8%), não (2,1%). Tổn thương bulky gặp 22,7% và 19,3 % vị trí ngoài hạch. Có mối tương quan tuyến tính thuận giữ kích thước tổn thương và SUVmax ở hạch cổ, nách, trung thất, ổ bụng và bẹn với hệ số tương quan r tương ứng là: 0,47; 0,51; 0,41; 0,46 và 0,56. Có mối tương quan tuyến tính thuận giữa kích thước tổn thương và SUVmax ở amidan, vòm họng , mũi, dạ dày, đại trực tràng, gan, phổi và tuyến thượng thận với hệ số tương quan r tương ứng là: 0,60; 0,44; 0,38; 0,64; 0,86; 0,54; 0,44 và 0,78. Không có sự khác biệt về kích thước và SUVmax của tổn thương hạch và ngoài hạch và tỷ lệ u bulky phân nhóm ULAKH B lớn lan tỏa GCB và nonGCB. Nhóm ULAKH B tiến triển chậm so với tiến triển nhanh: có sự khác biệt kích thước hạch ổ bụng nhóm tiến triển nhanh cao hơn (p< 0,05); có sự khác biệt giá trị SUVmax tổn thương hạch cổ, trung thất, ổ bụng, tổn thương ngoài hạch ở nhóm B tiến triển nhanh cao hơn có ý nghĩa thống kê với p< 0,05. Nhóm ULAKH dòng T: T ngoại vi, T/NK, T bất thục sản có sự khác biệt về kích thước, SUVmax tổn thương hạch cổ, tổn thương ngoài hạch, xương ( với p< 0,05); có khác biệt giữa nhóm T ngoại vi thấp hơn T bất thục sản về kích thước, SUVmax hạch nách, ổ bụng, bẹn (p< 0,05)và SUVmax hạch trung thất (p< 0,05). Nhóm có chỉ số Ki76 cao, trung bình, thấp có sự khác biệt về SUVmax ở tổn thương hạch cổ, bụng và ngoài hạch (p< 0,05) mặc dù không có sự khác biệt về kích thước tổn thương (p> 0,05). Kết luận: Nghiên cứu trên 286 bệnh nhân ULAKH: Tổn thương hạch chiếm 84,3%; Tổn thương ngoài hạch chiếm 54,5% (tổn thương hỗn hợp cả hạch và ngoài hạch chiếm 38,8%). Có mối tương quan tuyến tính thuận giữa kích thước tổn thương và SUVmax ở hạch và tổn thương ngoài hạch. Không có sự khác biệt về kích thước và SUVmax của tổn thương hạch và ngoài hạch và tỷ lệ u bulky, phân nhóm ULAKH B lớn lan tỏa GCB và nonGCB. Có sự khác biệt kích thước và giá trị maxSUV của tổn thương 1 số vị trí tại hạch và ngoài hạch ở nhóm ULAKH B tiến triển chậm so với tiến triển nhanh, Nhóm ULAKH dòng T, nhóm có chỉ số Ki67 cao.
Co-occurrence of two types of cancers, especially lung and colorectal cancers is rare. This study investigated patients at Bach Mai Hospital who were diagnosed with two or three cancers. Only a few patients concurrently had two cancers. Positron emission tomography (PET)/computed tomography (CT) was used for the staging of cancer, especially synchronous malignancies. In this report, we have presented the case of a patient diagnosed with rectal and lung cancer based on CT, magnetic resonance imaging, and PET/CT scans as well as immunohistochemistry. Managing terminal synchronous cancers is challenging. The efficacy of the preferred anticancer therapy must be considered to ensure patients’ quality of life. Although the combination of tyrosine kinase inhibitor-targeted therapy and chemotherapy is promising, its toxicity remains unknown. Our patient received two cycles of mFOLFOX6, afatinib, and bisphosphonate. However, the treatment was discontinued due to grade 3 stomatitis and grade 2 anemia. Despite recovery and partial response in terms of symptom and tumor marker reduction, the patient refused further treatment and chose palliative care.
In this study, we report the development of versatile and cost-effective analytical approaches for analysis and quality control of different nutraceutical and tonic products, using capillary electrophoresis (CE) coupled with contactless conductivity detection ((CD)-D-4). Insights into CE-(CD)-D-4 instrumental designs that are adapted to the context in developing countries are provided. A highlight was made for quality control of vitamins, glucosamine and some minerals in different nutraceutical formulations collected from pharmacies in Vietnam. The lowest detection limit (LOD) achieved with the developed methods was 0.1 mg/L for vitamins, using the optimized background electrolyte (BGE) composed of 12 mM arginine (Arg)/acetic acid (AcOH) at pH 7.5 with 10 % acetonitrile (ACN). For magnesium and B6, the optimized CE-(CD)-D-4 conditions with the BGE composed of 10 mM Arg/AcOH (pH 5) with 20 % ACN allows its detection down to 0.05 mg/L. For glucosamine and calcium, the best performance with LOD of 0.05 mg/L was achieved with BGE composed of 10 mM Tris/AcOH (pH 5). Good agreement between results from CE-(CD)-D-4 and the confirmation methods was achieved for all investigated compounds, with their result deviations less than 15 %.
Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá thời gian sống thêm toàn bộ của bệnh nhân được chẩn đoán xác định ung thư biểu mô tế bào gan điều trị bằng xạ trị trong chọn lọc với hạt vi cầu Resin gắn Y-90 và các yếu tố ảnh hưởng đến thời gian sống thêm tại Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu thuộc Bệnh viện Bạch Mai. Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành trên 111 bệnh nhân chẩn đoán HCC, điều trị bằng xạ trị trong chọn lọc từ 12/2013 đến 6/2022. Phương pháp nghiên cứu: hồi cứu có theo dõi dọc, can thiệp lâm sàng không đối chứng. Kết quả nghiên cứu: Thời gian OS trung vị là 25,9 tháng, khoảng CI 95% là 15,3 – 36,6 tháng. Tỷ lệ OS tại thời điểm 1 năm là 69,7%. Các yếu tố ảnh hưởng đến thời gian sống thêm toàn bộ bao gồm điểm toàn trạng ECOG 1, nồng độ AFP > 400ng/ml, kích thước u > 5cm, giai đoạn BCLC C và huyết khối tĩnh mạch cửa. Phân tích đa biến cho thấy huyết khối tĩnh mạch cửa là yếu tố ảnh hưởng đến sống thêm toàn bộ. Kết luận: Xạ trị trong chọn lọc bằng hạt vi cầu resin Y-90 là phương pháp điều trị hiệu quả cho bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan giúp kéo dài thời gian sống thêm. Không có huyết khối tĩnh mạch cửa là yếu tố tiên lượng tốt cho thời gian sống thêm toàn bộ.
The study aimed to evaluate the safety and effectiveness of selective internal radiation therapy (SIRT) in patients with unresectable hepatocellular carcinoma (HCC) in Vietnam. A single-arm, multicenter, prospective observational study on the use of SIRT in patients with HCC was conducted with 6 months of patient follow-up. At baseline, eligible patients had Eastern Cooperative Oncology Group (ECOG) status ≤1, total bilirubin ≤2 mg/dL, tumor burden ≤50%, Child-Pugh score A or ≤B7, and Barcelona Clinic Liver Cancer stage A – C. Patients with extrahepatic disease, signs of liver failure, or previous external beam radiation to the liver were excluded. Primary outcomes were tumor response according to modified Response Evaluation Criteria in Solid Tumors criteria, changes in liver function, and adverse events (AEs) assessed using Common Terminology for AEs v4.03 and the investigators’ clinical judgment. The secondary outcome was the percentage of patients alive at 6 months. Two centers enrolled 30 patients (median age 60 years) in 2017 and 2018. All patients were Child-Pugh A; among them, 28 were ECOG 0. Most had hepatitis B (n = 17, 57%) or D (n = 10, 33%). Target lesion response at 6 months was 23% complete response, 37% partial response, 7% stable disease, and 7% progressive disease. Of the 8 patients (27%) not evaluated, 2 had become eligible for resection, 2 had contraindications to imaging, and 4 were lost to follow-up. Laboratory values, including α-fetoprotein, did not change significantly from baseline to 6 months. The most common AEs were abdominal pain (37%) and vomiting (17%). Nine episodes of abdominal pain in 6 patients were treatment-related. Serious AEs included progressive cirrhosis (n = 1) and progression of HCC (n = 5). All patients were alive at 6 months. In conclusion, the safety and clinical effectiveness of SIRT were confirmed in patients with unresectable HCC in Vietnam.
It is reported herein a new approach to study the orientation and density of mouse antibody grafting on magnetic beads, serving for immunoassays and biosensors with fluorescent detection of biomolecules. This approach is based on selective enzymatic digestion of target grafted antibodies at a specific site below the hinge position to provide F(ab ')2 and Fc fragments, followed by separation and determination of these fragments with size exclusion chromatography (SEC) coupled with fluorescence detection (FLD). The developed method was applied for evaluation of immunoglobulin (IgG2a) grafting capacity on three different biofunctionalized magnetic beads (i.e., Tosyl-activated, carboxylic, protein G). Tosyl-activated and protein G beads at different optimal grafting IgG: bead ratios (i.e., 110 mu g: 1000 mu g and 240 mu g: 1000 mu g, respectively) exhibited superior grafting capacity than carboxylic counterparts. Under the optimized conditions, more than 70 % of antibodies were grafted on tosyl-activated and protein G beads in the right orientation. This approach was then demonstrated with different commercially available antibodies specific to amyloid-beta peptide 1-42 (A beta 1-42) for magneto-immunoassays and fluorescent detection of this peptide that is an established biomarker for molecular diagnosis of Alzheimer's disease.