Nghiên cứu đa dạng thành phần loài cá ở sông A Sáp thuộc A Lưới, thành phố Huế được thực hiện từ tháng 7 năm 2024 đến tháng 12 năm 2024. Nghiên cứu đã tiến hành thu mẫu cá từ ngư dân làm nghề khai thác (6 xã), các quầy bán thủy sản tại chợ A Lưới (5 quầy), chợ Bốt Đỏ (2 quầy) và 5 nhà hàng ăn uống tại thị trấn A Lưới để xác định các loài cá có nguồn gốc ở sông A Sáp. Định danh cá được thực hiện theo Hệ thống phân loại lưỡng phân của Nguyễn Văn Hảo (2005), Nguyễn Văn Hảo và Hồ Sỹ Vân (2001); trang Web fishbase (2019). Kết quả xác định được ở sông A Sáp có 61 loài cá, trong đó có 19 loài cá có giá trị kinh tế và 9 loài cá quý, hiếm và 4 loài cá đặc hữu. Theo sách đỏ IUCN (2019) có 9 loài cá quý, hiếm gồm: 1 loài cá cực kỳ nguy cấp (CR), 1 loài nguy cấp (EN), 5 loài sắp nguy cấp (VU) và 2 loài sắp bị đe dọa (NT). Các kết quả đạt được là cơ sở khoa học để bảo tồn, sản xuất giống nhân tạo và phát triển nuôi các loài cá quý hiếm, đặc hữu và có giá trị kinh tế ở sông A sáp.
Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả và tính an toàn của dùng thuốc tiêu huyết khối kết hợp phẫu thuật xâm lấn tối thiểu trong điều trị chảy máu não nguyên phát tại khoa Hồi sức tích cực bệnh viện Thanh Nhàn từ tháng 6/2021 đến tháng 12/2024. Phương pháp: Nghiên cứu can thiệp trên35 bệnh nhân được chẩn đoán chảy máu não nguyên phát điều trị tại khoa Hồi sức tích cực Bệnh viện Thanh Nhàn từ tháng 6 năm 2021 đến tháng 12 năm 2024, các bệnh nhân được can thiệp đặt catheter dẫn lưu ổ máu tụ kết hợp thuốc tiêu sợi huyết. Kết quả: Nhóm nghiên cứu có 35 bệnh nhân, trong đó có 43% bệnh nhân nam, 57% bệnh nhân nữ, bệnh nhân trong nhóm chủ yếu có tiền sử tăng huyết áp (77%), đái tháo đường (45%), điểm Glassgow (GCS) lúc vào viện chủ yếu: 13- 15 điểm: 45,7%; 5-8: 34,3%. Bệnh nhân không thở máy lúc vào viện: 60%, bệnh nhân được can thiệp sớm dưới 12h chiếm 86%, thể tích khối máu tụ lớn nhất trước điều trị: 98±30.5, thể tích nhỏ nhất sau điều trị: 8±2.5. Tổng liều tiêu sợi huyết: 9 liều chiếm 68,6%. Mức độ hồi phục theo mRS lúc ra viện: 0-3: 31%, 4-6: 69%; 1 tháng: 0-3: 55%, 4-6: 45%; 3 tháng: 0-3: 73%, 4-6: 27%. Trong số 35 bệnh nhân nghiên cứu: 22 bệnh nhân ra viện chiếm 63%, thời gian nằm viện (ngày): 15.68±8.13. Biến chứng của dẫn lưu ổ máu tụ chủ yếu viêm phổi sau chảy máu não chiếm 28.5%, không có viêm não. Kết luận: Áp dụng dùng thuốc tiêu huyết khối kết hợp phẫu thuật xâm lấn tối thiểu trong điều trị chảy máu não nguyên phát cải thiện đáng kể kết cục thần kinh của bệnh nhân
Cá ong bầu (Rhynchopelates oxyrhynchus), đối tượng bản địa tiềm năng mới cho nghề nuôi trồng thủy sản ở Thừa Thiên Huế. Tuy nhiên, các dữ liệu liên quan đến sự thành thục sinh sản của đối tượng này trong nuôi ao lót bạt vẫn chưa được thực hiện. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá khả năng thành thục của cá ong bầu trong ao nuôi lót bạt nhằm chủ động được nguồn cá bố mẹ thành thục phục vụ sinh sản nhân tạo thông qua sự thay đổi về hệ số thành thục, đường kính tế bào trứng và nồng độ vitellogenin trong máu đối với cá cái và sự thành thục tuyến sinh dục đối với cá đực. Kết quả của nghiên cứu cho thấy cá ong bầu bố mẹ có thể nuôi vỗ thành thục trong ao nuôi lót bạt với tỷ lệ sống lớn hơn 60%. Hệ số thành thục được ghi nhận cao nhất đạt 5,30% (cá cái) và 3,56% (cá đực). Hàm lượng Vtg huyết tương tăng dần theo thời gian nuôi vỗ với 102,0 ng/mL tại tháng 1 và đạt giá trị cao nhất 765,9 ng/mL vào tháng 8. Đối chiếu với kết quả cắt mô tế bào học cho thấy rằng tuyến sinh dục của cá ong bầu cái ở giai đoạn sớm của quá trình hấp thụ noãn hoàng vào tháng 7 và giai đoạn thành thục sinh sản xảy ra từ tháng 8 đến tháng 9 với đường kính trứng lớn hơn 400 µm. Từ khóa: ong bầu, vitellogenin, sự thành thục
Nghiên cứu buồng trứng cá trôi Ấn Độ (Labeo rohita Hamilton, 1822) được thực hiện từ tháng 12/2022 đến tháng 8 năm 2023. Dựa vào phương pháp phân tích đặc điểm tổ chức tế bào học cho thấy buồng trứng cá trôi Ấn Độ phát triển qua 6 giai đoạn và tế bào trứng có 4 thời kỳ. Kích thước đường kính tế bào trứng tăng dần theo sự phát triển: thời kỳ tổng hợp nhân: 20 - 100µm, sinh trưởng sinh chất: 140 - 440μm, sinh trưởng dinh dưỡng: 450 - 830μm và thời kỳ trứng chín: 850 - 980μm. Ngoài ra cũng xác định được thời gian nuôi vỗ tích lũy cá trôi Ấn Độ tử đầu tháng 1 đến cuối tháng 2, nuôi vỗ chuyển hóa từ đầu tháng 3 đến 15/4 và kích thích sinh sản có thể bắt đầu từ 15/4. Các kết quả đạt được là cở sở khoa học để cải tiến qui trình sinh sản nhân tạo cá trôi Ấn Độ phù hợp với địa phương, góp phần nâng cao hiệu quả trong sản xuất giống cá.
Nghiên cứu này nhằm đánh giá ảnh hưởng của liều tiêm HCG đến kết quả sinh sản của cá Leo (Wallago attu). Cá cái thành thục được tiêm HCG với 5 liều, lần lượt là 1.000, 2.000, 3.000, 4.000, 5.000 IU/kg. Cá đực được tiêm HCG với nồng độ 1.500 IU/kg. Ngoài ra, một nghiệm thức được tiêm nước muối sinh lý sử dụng để làm đối chứng (ĐC). Kết quả cho thấy đường kính trứng của cá Leo đạt 1,67 - 1,71 mm và khoảng cách trung bình giữa túi nhân đến màng tế bào trứng dao động từ 0,21 ± 0,05 mm đến 0,22 ± 0,03 mm là cá có thể tham gia sinh sản. Cá ở nghiệm thức ĐC không rụng trứng sau 24 giờ kể từ liều tiêm quyết định. Kích thích sinh sản cá Leo cái ở liều 4.000 IU HCG/kg đạt kết quả tốt nhất với tỷ lệ rụng trứng 100%, tỷ lệ thụ tinh 87,3%, tỷ lệ nở 84,7% và năng suất cá bột 6,3 vạn/kg cá cái tham gia sinh sản. Thời gian phát triển phôi của cá Leo dao động từ 18 đến 20 giờ. Cá bột sau 2,5 – 3 ngày sẽ tiêu hết noãn hoàng và bắt đầu sử dụng thức ăn bên ngoài.
Sau khi tiêm liều sơ bộ bằng 10 μg LRH-A3 và 6 mg DOM cho 1 kg cá cái, liều tiêm quyết định trên cá diếc đã thử nghiệm với 2 loại steroid: 17α,20β-dihydroxyprogesteron (17,20 P) và Progesteron (P) để tìm ra liều tối ưu. Thí nghiệm 1 và 2 đã xác định được liều tối ưu là 3 mg (17,20 P)/kg cá và 15 mg (P)/kg cá, để kích thích cá diếc chín và rụng trứng. Thí nghiệm 3, so sánh các liều tối ưu của 17,20 P và P với loại và liều chất kích thích đang sử dụng tại địa phương (40 µg LRH-A3 + 24 mg DOM)/kg cá. Cá đực tham gia sinh sản được kích thích bằng cách tiêm tổ hợp (16,7 μg LRH-A3 + 10 mg DOM)/kg cá, tiêm cùng lúc với liều quyết định ở cá cái. Các thí nghiệm được lặp lại 3 lần. Kết quả so sánh liều tối ưu cho thấy 17,20 P có năng suất cá bột cao nhất, tiếp đến là P và sau cùng là tổ hợp chất kích thích đang sử dụng tại địa phương (LRH-A3 + DOM).
The study aimed to determine the optimum dietary lysine level of the orange-spotted rabbitfish Siganus guttatus Bloch, 1787 (average body weight range of 5.2 to 7.6 gxfish-1). The feeding trial was conducted for 8 weeks employing six experimental diets which were isonitrogenous, isocaloric, and isolipidic (35% crude protein (CP), 18.3 MJxkg-1 of gross energy, and 5% lipid). The lysine content ranged from 1.22 g to 2.12 g lysine xkg-1 dry diet (35 to 70 gxkg-1 CP). Results showed that percent weight gain (PWG), and specific growth rate (SGR) peaked at a lysine level of about 55 gxkg-1 CP equivalent to 1.93 gxkg dry diet-1). Feed efficiencies i.e., protein efficiency ratio and food conversion ratio values as well as survival were not affected by the dietary treatments. Lysine requirement level for juvenile rabbitfish was estimated using both broken-line and quadratic regression analyses of PWG and SGR against dietary lysine levels to be between 15.9 and 18.3 gxkg-1 diet (=45.3 and 52.3 gxkg-1 CP).
Nghiên cứu này nhằm mục đích hoàn thiện quy trình sản xuất giống để phát triển nuôi ở tỉnh Quảng Bình và góp phần bảo vệ nguồn lợi cá Lăng chấm nói chung. Kết quả nghiên cứu cho thấy kích thước thành thục sinh dục lần đầu của cá khi nuôi trong ao đất có chiều dài là 66 cm và khối lượng trung bình là 2,87 kg với cá cái; 74 cm và 3,53 kg với cá đực. Mùa vụ sinh sản cá Lăng chấm nuôi trong ao bắt đầu từ tháng 4 đến đầu tháng 6. Tỷ lệ thành thục cao nhất đạt 100% ở cá đực và 67% ở cá cái vào tháng 6. Tổ hợp chất kích thích phù hợp để sinh sản cá Lăng chấm là LRHa + Dom trong liều quyết định hiệu quả nhất là (30μg LRHa + 6mg Dom)/kg cá cái. ở nhiệt độ 26 -280C, thời gian hiệu ứng của cá Lăng chấm là 22 - 25 giờ, tỷ lệ đẻ đạt 100%. Sức sinh sản thực tế của cá Lăng chấm từ 3.146 - 4.195 trứng/kg cá cái. Thời gian nở của trứng dao động từ 68 - 72 giờ ở nhiệt độ nước 26 - 28oC. Tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ nở trung bình đạt 48,3 - 54,4% và 38,2 - 47,3%. Năng suất cá bột trung bình dao động từ 579 - 966 con/kg cá cái.
Nghiên cứu sản xuất giống cá Chạch bùn tại Thừa Thiên Huế đã cho một số kết quả bước đầu khả quan. Đề tài đã thu gom, lựa chọn 1.500con cá Chạch bùn bố mẹ có khối lượng từ 15-30g/con để đưa vào nuôi thuần dưỡng và nuôi vỗ. Sau 60 ngày nuôi vỗ cá bố mẹ cá đạt tỷ lệ sống 85%, tỷ lệ thành thục đạt 79,3%, hệ số thành thục đạt 12,7%. Kích thích cá Chạch bùn đẻ thành công bằng kích dục tố (100µg LH-RHa + 10mg DOM)/kg cá. Tỷ lệ cá rụng trứng đạt 100%, tỷ lệ thụ tinh 78,65%, tỷ lệ nở 65,76% và tổng số cá bột thu được 82.680con. Kết quả ương cá bột lên cá hương tỷ lệ sống đạt 9,1%. Ương cá hương lên cá giống tỷ lệ sống đạt 47,5%. Đề tài đã sản xuất ra được hơn 3.500con cá chạch bùn giống có kích cỡ 3,4-4,5cm/con. Nghiên cứu này làm cơ sở khoa học cho việc hoàn thiện quy trình sản xuất giống nhân tạo và ương nuôi cá chạch bùn. Từ khóa: Cá Chạch bùn, kích dục tố, nuôi vỗ, ương cá, sản xuất giống nhân tạo.
Nghiên cứu được tiến hành trên cá Rô đầu vuông ở Trung tâm giống thủy sản nước ngọt cấp I – Thừa Thiên Huế với mục tiêu xác định ảnh hưởng của các nồng độ muối khác nhau đến quá trình ương từ đó có thể chủ động cung cấp nguồn giống cá Rô đầu vuông có khả năng phát triển bình thường trong môi trường rộng muối, góp phần đưa loài cá này trở thành đối tượng nuôi nước lợ, làm đa dạng hóa đối tượng nuôi ở vùng nước lợ đầm phá tỉnh Thừa Thiên Huế. Thí nghiệm được bố trí ngẫu nhiên hoàn toàn gồm 8 nghiệm thức có nồng độ muối là 0‰, 3‰, 5‰, 7‰, 9‰, 11‰, 13‰, 15‰ với 3 lần lặp lại. Kết quả cho thấy, độ mặn ảnh hưởng đến quá trình ương của cá Rô đầu vuông, trong đó ở mức độ mặn 0‰ và 5‰ , cho tỷ lệ sống và tốc độ sinh trưởng cao nhất. Đặc biệt ở mức đô mặn 5‰ đạt kết quả tối ưu sau 30 ngay ương và có sự sai khác thống kê (P <0,05) so với các mức độ mặn 3‰, 7‰, 9‰, 11‰, 13‰, 15‰. Các yếu tố môi trường đều nằm trong khoảng giới hạn, thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển cá Rô đầu vuông. Từ khóa: Cá Rô đầu vuông, độ mặn, tỷ lệ sống, tốc độ sinh trưởng
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 11/2013 đến tháng 05/2014 trên các mẫu vật thuộc loài cá nâu Scatophagus argus Linnaeus, 1766 thu thập tại đầm phá Tam Giang Cầu Hai, tỉnh Thừa Thiên Huế và tại các tỉnh Quảng Tri, Quảng Nam để xác định một số đặc điểm sinh học sinh sản cơ bản của chúng. Các chỉ tiêu phân tích bao gồm kích thước cá khai thác, thành phần tuổi cá khai thác, tỷ lệ đực/cái, đặc điểm về sự phát triển của tuyến sinh dục và các đặc điểm về sinh sản. Kết quả cho thấy kích thước khai thác của cá nâu tại Thừa Thiên Huế dao động từ 57 – 238 mm. Độ tuổi khai thác phổ biến từ 2-3 tuổi. Tỉ lệ đực: cái theo nhóm tuổi lần lượt 1+(0.7:1); 2+( 0.85:1) và3+(0.89:1). Sức sinh sản tuyệt đối của cá nâu dao động trong khoảng từ 650.210 - 1.198.260 trứng/cá thể cá cái. Sức sinh sản tương đối của cá nâu dao động trong khoảng từ 2.705 – 4.772 trứng/g cơ thể cá. Cá Nâu có hệ số thành thục cao vào tháng 4 và 5 hàng năm, mùa vụ sinh sản bắt đầu từ tháng 3 đến tháng 5 và từ tháng 7 đến tháng 8. Từ khoá:Buồng trứng, cá nâu, sinh học sinh sản, tinh sào
Kết quả nghiên cứu cho thấy điều kiện môi trường ở Thừa Thiên Huế thích hợp cho sự thành thục tuyến sinh dục của cá Điêu hồng (Oreochromis sp.). Cá Điêu hồng bố mẹ thành thục từ 12 tháng tuổi trở lên với khối lượng thành thục lần đầu của cá đực trung bình 336 ± 18,68 g tương ứng với chiều dài trung bình 22,6 ± 2,8 cm và cá cái có khối lượng trung bình 350 ± 24,8 g tương ứng với chiều dài trung bình 25 ± 1,86 cm. Số trứng thu được, khối lượng cá cái tham gia sinh sản, tỷ lệ ngậm trứng thấp nhưng số trứng thu được/kg cá cái, tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ nở khá cao, đạt yêu cầu của sản xuất. Việc ngâm cá Điêu hồng ở các mức nồng độ 17α - methyltestosteron (MT) là 1,6; 2 và 2,4 mg/lít với thời gian ngâm 2 giờ cho kết quả tỷ lệ đực, hệ số đực hóa và khả năng sinh trưởng cao nhất được ghi nhận ở nghiệm thức 2 mg/lít.Từ khóa: Cá Điêu hồng, 17α - methyltestosteron, Thừa Thiên Huế, sinh sản, đực hóa
Thử nghiệm kích thích sinh sản cá Rô đầu vuông cái bằng: (LRH-A3 + Dom) với 3 liều: (70µgLRH-A3+2mgDom)/kg); (80µgLRH-A3+2mgDom)/kg; (90µgLRH-A3+2mgDom)/kg - Cá đực: (40µgLRH-A3+2mgDom)/kg và HCG với 3 liều: 3000IU/kg; 4000IU/kg; 5000IU/kg cá đực: 2000IU/kg. Kết quả nghiên cứu đã cho thấy cả (LRH-A3 + Dom) và HCG đều có hiệu quả kích thích cá Rô đầu vuông sinh sản. Các kết quả về tỷ lệ đẻ, tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ nở, năng suất cá bột đều đáp ứng yêu cầu của sản xuất. Hiệu quả sinh sản khi sử dụng liều tối ưu của (LRH-A3+ Dom) và HCG để kích thích sinh sản cá Rô đầu vuông cho kết quả tương đương nhau. Kết quả ấp trứng cá Rô đầu vuông ở 4 mật độ: 2500, 3000, 3500, 4000 trứng/lít nước, trong điều kiện không sục khí, đều cho tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ nở cao, tuy nhiên ở mật độ 3500 trứng/ lít nước cho hiệu quả cao nhất. Từ khoá: Cá Rô đầu vuông, Dom, HCG, kích thích,liều tiêm, LRH-A3, mật độ.
Cá trắm cỏ là loài cá nuôi nước ngọt chủ yếu ở Việt Nam. Nghiên cứu đặc điểm sinh học trong điều kiện nuôi ở Quảng Trị đã xác định được: Cá đực thành thục lần đầu từ 1 đến 2 tuổi, đạt trọng lượng 1.700 - 2.400 g, chiều dài 46 - 62 cm. Cá cái thành thục lần đầu khi được 2 - 3 tuổi, có trọng lượng 1.800 - 2.800 g, chiều dài 48 - 64 cm. Mùa vụ sinh sản chính vụ từ tháng 2 đến tháng 4, tái phát từ tháng 3 đến tháng 9. Hệ số thành thục cao nhất vào tháng 4, đạt 15,9%. Độ béo Fulton và Clark tăng từ tháng 10 đến tháng 12, sau đó giảm dần từ tháng 12 đến tháng 4. Sức sinh sản tuyệt đối tăng theo trọng lượng cơ thể và sức sinh sản cá nuôi chính vụ lớn hơn tái phát.
After a priming with the combination consisted of 13.3 ug of [D-Ala6, Pro9 Net] - mGnRH (LRH-A, China) and 2 mg of Domperidone (Dom; Motilium-M, Jannsen, Thailand) per kg female, the resolving doses of 17α,20β-dihydroprogesterone (3; 4; 5mg/kg), Progesterone (10; 15; 20mg/kg) and Desoxycorticosteron acetat (7,5; 10; 15 mg/kg) for oocyte maturation and ovulation in vivo on a Grass carp (Ctenopharyngodon idellus) were tested. Results of the study indicated that optimal doses of 17,20; P and DOCA were 4; 20 and 10 mg/kg respectively. Result of oocyte maturation and ovulation in vivo of the fish by the optimal doses of the abovementioned steroid hormones mixed with LRH-A+Dom or Dom in a single injection brought low spontaneous spawn rate, however their fertilization and hatching rate were normal and quite satisfy the requirements of fish artificial propagation techniques.