Urbanization processes often lead to flooding issues, hindering the development of cities in Vietnam.For cities undergoing planning, initial solutions are crucial.To avoid replicating old urban structures, lacking green spaces, and missing water retention systems, this paper applies Low Impact Development (LID) solutions within the Storm Water Management Model (SWMM) framework for flood management in the new urban area along the Cai Nai River, located in the new residential area of Hung Thanh Ward, Cai Rang District, Can Tho City.The integration of SWMM with LID serves as a useful tool towards sustainable urban development, aiming for a more modern and intelligent city.This tool helps managers and investors save costs and time in selecting suitable solutions tailored to the planning characteristics of the study area, ensuring effectiveness during implementation.The paper proposes constructing two scenarios: current status and planned; comparing flow rates before and after urbanization for a major rainfall event on April 2, 2023.Subsequently, LID solutions are introduced and evaluated for effectiveness through each calculated scenario.
Mục tiêu: Mô tả kết quả điều trị chảy máu trong mổ lấy thai bằng thắt động mạch tử cung tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương từ tháng 6/2021 đến tháng 5/2023. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Hồi cứu số liệu dựa vào bệnh án của 250 sản phụ được thắt động mạch tử cung để điều trị cầm máu trong mổ lấy thai tại bệnh viện Phụ sản Trung ương từ tháng 6/2021 đến tháng 5/2023. Kết quả: Thắt động mạch tử cung cho hiệu quả thành công cao đối với các trường hợp chảy máu sau đẻ trong mổ lấy thai tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương (87,6%). Tuổi của sản phụ, tình trạng phải truyền máu và truyền dung dịch cao phân tử có liên quan tới tỷ lệ thành công của thủ thuật. Kết luận: Có thể áp dụng rộng rãi phương pháp thắt động mạch tử cung để cầm máu trong mổ lấy thai. Cần lưu ý đánh giá các đặc điểm của sản phụ cũng như phổ biến và nâng cao kỹ thuật cho các phẫu thuật viên để bảo đảm đạt được kết quả điều trị tối ưu.
Bài báo trình bày việc áp dụng phương pháp Linear Quadratic Regulator (LQR)để điều khiển hệ thống ball and beam (B&B) trục giữa – một hệ thống một vào nhiều ra(single input multi output – SIMO) thông dụng trong điều khiển tự động (ĐKTĐ). Bằngcách sử dụng các kết quả thu được từ các phép đo và mô phỏng, bộ điều khiển (BĐK) LQRđã chứng minh được hiệu quả trong việc điều khiển ổn định cho hệ B&B trục giữa. Bêncạnh đó, các kết quả tinh chỉnh thông số điều khiển cũng được trình bày để củng cố lýthuyết hiệu chỉnh LQR và chỉ ra các thông số quan trọng nhất trong quá trình hiệu chỉnhđối với riêng đối tượng này (thay vì việc quan tâm quá nhiều thành phần khác). Nghiên cứuđóng góp học thuật thông qua quá trình tinh chỉnh riêng cho hệ BTTG. Trên cơ sở đó,nghiên cứu tạo nền tảng cho việc phát triển tiếp tục quy trình tìm kiếm, tối ưu thông số điềukhiển cho đối tượng trên.
An HFMD outbreak spread over the city of Hải Phòng from summer 2011 to autumn 2012. This epidemic was chosen because it was the very first HFMD epidemic in North Vietnam, eliminating thus interferences with previous outbreaks. This epidemic displayed three separate waves. A complete dataset was collected for more than 9500 patients during this period, which enabled us to analyze this epidemic at different scales. Access to the healthcare system was crucial during this period, which was possible due to a reorganization of the system in February–March 2012. An analysis at the commune level enabled us to track the epidemic along certain communication routes. The three-waves structure reveals a wide disparity at the district level. We developed a mathematical model showing high accuracy at the adjustment of data for both the total number of cases and for the number of cases per week. As a consequence, the model was able to accurately determine the dates of the beginning and end of each wave and to show that they overlapped. Using mathematical functions associated with this model, it was possible to calculate the probability for a patient to belong to a specific wave.
Đặt vấn đề: Mặc dù FDA phê duyệt tầm soát đầu tay với cobas® HPV Test vào tháng 4/2014 thay cho PAP test đầu tay và Bộ Y tế Việt Nam cũng đã phê duyệt quyết dịnh tầm soát UTCTC số 1639 ngày 19/3/2021 với xét nghiệm HPV đơn độc hoặc phối hợp với PAP nhưng Bác sĩ vẫn chưa mạnh dạn để làm xét nghiệm HPV đầu tay trong khi theo các nghiên cứu trên thế giới đã ghi nhận tỉ lệ phụ nữ có PAP âm tính và HPV dương tính phát hiện các tổn thương từ CIN 2 trở lên là 15-25%. Mục tiêu nghiên cứu: Xác định tỉ lệ các trường hợp tổn thương tiền ung thư cổ tử cung, ung thư cổ tử cung có kết quả PAP âm tính và HPV dương tính để cung cấp chứng cứ giúp chuyển đổi tư duy và thói quen của NVYT đối với việc tầm soát UTCTC. Phương pháp nghiên cứu: Thiết kế nghiên cứu: cắt ngang hồi cứu. Đối tượng nghiên cứu: Phụ nữ khám phụ khoa có thực hiện tầm soát TCTC với phết tế bào cổ tử cung (PAP) và xét nghiệm HPV, có kết quả sinh thiết cổ tử cung bất thường tại bệnh viện Hùng Vương. Cỡ mẫu lấy mẫu toàn bộ trong năm 2021. Cách chọn mẫu: Hồ sơ ngoại trú có đầy đủ các xét nghiệm PAP, HPV và kết quả Giải phẫu bệnh đọc tại BV Hùng Vương. Kết quả: Sự tương thích giữa PAP và HPV chiếm tỷ lệ 39,3% (101/257). Sự bất tương thích giữa PAP và HPV chiếm tỷ lệ 60,7% (156/257) trong đó PAP (-) nhưng HPV (+) là 46,7%. Dựa vào GPB: tỷ lệ PAP không phát hiện bệnh là 51,4%. Những trường hợp tổn thương từ CIN 2 trở lên thì tỉ lệ PAP không phát hiện là 12% trong đó có 1 trường hợp là ACC và 1 là AGC. Đối với HPV: HPV (-) là 18,7% Dối với những trường hợp tổn thương từ CIN 2 trở lên tỉ lệ HPV(-) là 3,1% trong đó có 1 trường hợp AGC. Tỉ lệ PAP (+) và HPV (-) trên tổng số ca bệnh là 14% (36/257), trong đó 83,3% là CIN1 và 16,7% là CIN2+ cần theo dõi điều trị, không có UTCTC. Sàng lọc UTCTC với PAP test bỏ sót bệnh gấp 2,75 lần so với HPV test. Đối với những trường hợp CIN 2+ thì tỷ lệ PAP không phát hiện bệnh gấp 3,9 lần so với HPV test. Kết luận: Để giúp phòng chống UTCTC hiệu quả, người cán bộ y tế nên thực hiện xét nghiệm HPV đầu tay. Khi xét nghiệm này dương tính sẽ soi cổ tử cung để sinh thiết nếu cần. Sau đó cần làm lại PAP test để đánh giá tình trạng bệnh lý cổ tử cung hiện có để tiện theo dõi.
Mục tiêu: Đánh giá mức độ lo lắng trước phẫu thuật của bệnh nhân điều trị nội trú tại Khoa Phẫu thuật Gan Mật Tụy - Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 từ tháng 7 năm 2023 đến tháng 9 năm 2023. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu, mô tả, cắt ngang. Thu thập số liệu bằng phiếu điều tra sử dụng bộ câu hỏi BAI (Beck Anxiety Inventory). Kết quả: Tổng số 160 bệnh nhân được đưa vào nghiên cứu, tỷ lệ biểu hiện lo lắng trước phẫu thuật là 61,9%. Có mối liên quan chặt chẽ và có ý nghĩa thống kê (p<0,05) giữa tiền sử ngoại khoa và tâm lý của người bệnh trước phẫu thuật. Kết luận: Lo lắng là vấn đề đối với bệnh nhân trước phẫu thuật. Nhân viên y tế cần nhận định, tư vấn, hỗ trợ tâm lý để cải thiện sức khỏe tâm thần cho bệnh nhân.
Thalassemia là bệnh về huyết sắc tố do giảm hoặc mất tổng hợp một hay nhiều chuỗi polypeptid trong globin của phân tử hemoglobin. Người bị bệnh và mang gen bệnh có ở tất cả các tỉnh/thành phố, ở tất cả các dân tộc trên toàn quốc. Việc khảo sát tình trạng quá tải sắt ở các bệnh nhân Thalassemia rất quan trọng, đưa ra cái nhìn toàn diện, từ đó giúp các bác sĩ điều trị thải sắt hiệu quả hơn, góp phần cải thiện tiên lượng lâu dài của bệnh nhân Thalassemia. Mục tiêu: Đánh giá tình trạng quá tải sắt trên bệnh nhân Thalassemia điều trị tại Bệnh viện đa khoa Thống Nhất năm 2023 Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu, tiến cứu, mô tả hàng loạt ca, tiến hành trên 77 bệnh nhân Thalassemia tại phòng khám huyết học và đơn vị huyết học lâm sàng - Khoa nội tổng hợp - BV đa khoa Thống Nhất từ tháng 01 đến 06 năm 2023. Kết quả nghiên cứu: Thể bệnh Beta Thalassemia, Beta Thalassemia HbE và Alpha Thalassemia chiếm tỉ lệ lần lượt là 55,8%, 23,4% và 20,8%. Tình trạng quá tải sắt chiếm 84,5%, trong đó quá tải sắt mức độ nặng chiếm 16,9 % và quá tải sắt mức độ nhẹ và trung bình chiếm 67,6%. Bệnh nhân có đáp ứng với thuốc thải sắt Deferiprone sau 3 tháng điều trị với mức giảm nồng độ Ferritin huyết thanh trung vị là 68,2(-36,8 – 259,0) ng/mL. Có mối tương quan mạnh giữa Ferritin huyết thanh với Hb, coombs trực tiếp và ALT. Kết luận: Bệnh nhân Thalassemia có quá tải sắt mức độ nặng chiếm 16,9 % và quá tải sắt mức độ nhẹ và trung bình chiếm 67,6%. Bệnh nhân có đáp ứng với thuốc thải sắt Deferiprone sau 3 tháng điều trị. Có mối tương quan mạnh giữa Ferritin huyết thanh với Hb, Coombs trực tiếp và ALT.
Trong thời đại công nghiệp 4.0 hiện nay, việc phân tích và đánh giá dữ liệu để đưa ra các quyết định đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện và nâng cao mọi khía cạnh của cuộc sống. Tại Trường Đại học Công Nghệ Thông Tin, ĐHQG-HCM, sinh viên có cơ hội đánh giá và cung cấp phản hồi về giảng viên vào cuối mỗi học kì, điều này dẫn đến sự hình thành một tập dữ liệu vô cùng lớn và tiềm năng. Để giúp trường đại học thu thập thông tin có giá trị một cách hiệu quả và hỗ trợ các quyết định nhằm cải thiện chất lượng giảng dạy, nghiên cứu này đã phát triển một hệ thống hỗ trợ ra quyết định dựa trên dữ liệu với mục tiêu đảm bảo chất lượng giảng dạy và hỗ trợ cấp quản lý trong việc theo dõi, đánh giá quá trình giảng dạy, gọi là Academic Quality Assurance – AQA. Hệ thống AQA tập trung vào việc hỗ trợ người dùng lọc dữ liệu dựa trên các học kì, các môn học, các phòng ban và các chương trình, sau đó trực quan hóa dữ liệu, cung cấp các so sánh. Điều này hỗ trợ người dùng trong việc đưa ra các quyết định cải thiện cần thiết và theo dõi hiệu quả thông qua điểm đánh giá hàng năm.
Mục tiêu: Mô tả diễn biến và kết quả chăm sóc điều dưỡng bệnh nhi dưới 5 tuổi nhiễm trùng hô hấp cấp do virus hợp bào tại bệnh viện Vinmec Times City năm 2023. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả tiến cứu 143 bệnh nhi từ tháng 04/2023 – 8/2023 tại Trung tâm Nhi - Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City. Kết quả: Trong nghiên cứu này tỷ lệ nam/nữ =1,7/1. Nhóm tuổi chủ yếu của bệnh nhi là từ 12 đến dưới 36 tháng 55,2%. Tuổi trung bình của bệnh nhi là 22,6±13,4(tháng). Thời gian điều trị tại viện của trẻ nhi là 6,3±0,8 (ngày). Ngày vào viện triệu chứng lâm sàng biểu hiện đa dạng chủ yếu trẻ xuất hiện ho nhiều 72,7%; khò khè 85,3%; khó thở 81,8%; suy hô hấp chiếm tỷ lệ nhỏ 16,1%. Trẻ sốt vừa, cao và rất cao chiếm đa số 75,5%; thông khí phổi giảm 81,8% có nhiều rale co thắt, ẩm 94,4%; Triệu chứng cận lâm sàng tỷ lệ trẻ có CRP tăng chiếm đa số 68,5%; bạch cầu tăng 52,4%, tiểu cầu giảm (3,5%); Chỉ định điều trị: có 1,4% trẻ phải thở máy và 51,0% trẻ được khí dung. Số trẻ được sử dụng corticoid là 49,7%; kháng sinh 93,0%. Điểm đánh giá hoạt động chăm sóc bệnh nhi có NTHHC do RSV chăm sóc tốt: 75,5%, chưa tốt: 24,5%. Kết luận: Theo dõi bệnh nhi tại thời điểm vào viện, ngày thứ 3, ngày thứ 5, lúc ra viện: Hầu hết các triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng đều cải thiện rõ rệt. Hoạt động chăm sóc điều dưỡng được đánh giá tốt chiếm đa số 75,5%.
Bằng việc sử dụng khéo léo hệ thống ngôn ngữ, đặc biệt là lớp từ tâm lí - tình cảm để miêu tả trạng thái tâm lí nhân vật trong các chuỗi tình huống, sự kiện, Nguyễn Ngọc Tư đã khắc họa được tính cách nhân vật trong truyện, làm nổi bật hình ảnh con người Nam Bộ với những đặc điểm nổi bật là thật thà, chất phác, giàu tình cảm và chan chứa niềm tin vào cuộc sống. Trong phạm vi của bài viết, tác giả chỉ tập trung khai thác đặc điểm ngữ nghĩa của lớp từ tâm lí - tình cảm trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư. Từ đó giúp người đọc có cái nhìn đồng cảm hơn với cuộc sống, với những mảnh đời thiếu may mắn trong tác phẩm nói riêng và ở ngoài đời nói chung.
Surveillance is the backbone of any response to an infectious disease outbreak, and comprehensive evaluation of surveillance systems is crucial. However, structured evaluations of surveillance systems during the COVID-19 pandemic are scarce. We conducted a after action review (AAR) of the performance of the COVID-19 surveillance system in Quang Ninh Province, Vietnam, during 2020 using the COVID-19-specific AAR methodology developed by the World Health Organization in combination with guidance from the US Centers for Disease Control and Prevention (CDC). We conducted a stakeholder survey, document reviews, and key informant interviews with staff from Quang Ninh CDC's COVID-19 surveillance system. The COVID-19 surveillance system was based on the pre-existing surveillance system in the province. The system's strengths were early preparation for emergency response, strong governance and central coordination, and multidisciplinary collaboration. Stakeholders agreed that the system proved useful and adaptive to the fast-evolving COVID-19 situation but was weakened by overly complex systems, redundant administrative processes, unclear communication channels, and lack of resources. Overall, the surveillance systems in Quang Ninh province proved effective in containing COVID-19 and adaptive in a fast-changing epidemiological context. Several recommendations were made based on identified areas of concern that are of relevance for COVID-19 surveillance systems in Vietnam and similar settings.
Lo âu trước phẫu thuật có thể ảnh hưởng đến quyết định điều trị và kết quả điều trị chung của người bệnh phẫu thuật. Nghiên cứu này nhằm mục tiêu xác định tỷ lệ người bệnh lo âu trước phẫu thuật lồng ngực và xác định một số yếu tố liên quan đến lo âu trước phẫu thuật lồng ngực tại Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch. Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, ở 271 người bệnh phẫu thuật lồng ngực tại Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch - Thành phố Hồ Chí Minh, từ tháng 06/2023 đến tháng 8/2023. Có 64,94% người bệnh lo âu trước phẫu thuật, trong đó có 10,7% người bệnh có lo âu từ vừa đến nặng. Nữ giới, nhóm tuổi trẻ, độc thân, học vấn càng cao càng làm tăng mức độ lo âu trước phẫu thuật của người bệnh. Lo âu của người bệnh trước phẫu thuật lồng ngực là phổ biến, do đó người bệnh cần được can thiệp giảm lo âu trước phẫu thuật lồng ngực.
Since the subsidised economy was substituted by privatisation in 1986, familybecame the main source of support for the majority of Vietnamese elderly.Traditionally, old aged parents live under the same roof with their adult children, sothat they can be looked after.Recently, the process of modernisation of its economy with the focus on urban areasin Vietnam has pushed young rural generations away from home and torn ruralfamilies apart. Scholars and experts have tried to understand if that movement ishaving any impact on the left-behind parents. However, the majority of the existingstudies used secondary data, and quantitatively tested only the economic aspects.Other aspects of life of the left-behind elders attracted a limited amount of research.The voice of those left-behind elderly parents was also underestimated, and oftennot heard.This study utilised a qualitative approach and drew on the voice of those insiders,whose children had migrated to urban areas for employment. It explores the wellbeingof rural elderly individuals, not only the material aspects, but also emotionaland physical care.
Bài báo trình bày phương pháp và kết quả nghiên cứu xây dựng hệ thống cỡ số (HTCS) trang phục nam trung niên độ tuổi từ 30-60 trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Dữ liệu 3D sử dụng trong bài báo này được thu thập từ 378 nam trung niên công chức tình nguyện tham gia khảo sát một cách ngẫu nhiên bằng kỹ thuật quét cơ thể 3D Size Stream. 48 dấu hiệu kích thước cơ thể theo chiều cao, chiều dài và chiều rộng đã được phân tích và sử dụng xây dựng HTCS. Các phương pháp phân tích thành phần chính, phương pháp kiểm định giả thiết về phân phối của K.Pearson chứng minh quy luật phân phối chuẩn của các kích thước chủ đạo được thực hiện bằng phần mền R, SPSS xác định các kích thước chủ đạo phục vụ xây dựng HTCS trang phục nam trung niên của giới văn phòng sinh sống tại thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả sau khi thiết lập bảng HTCS có 23 cỡ số, đáp ứng 99,7% được nhu cầu về cỡ số phục vụ cho sản xuất may công nghiệp. Phương pháp phân dạng xây dựng bảng HTCS trong nghiên cứu này mang tính khoa học và ứng dụng vào thực tiễn sản xuất cũng như làm tiền đề để hỗ trợ các nội dung của nghiên cứu liên quan đến thiết kế trang phục nam.
Nghiên cứu cắt ngang nhằm mô tả mối liên quan giữa đặc điểm của hoạt động chăn nuôi tới kiến thức, thái độ và thực hành của người chăn nuôi về kháng sinh (KS) và kháng kháng sinh (KKS) trong chăn nuôi và giữa kiến thức, thái độ và thực hành với tình trạng nhiễm E. coli mang gen mcr-1 kháng colistin ở người làm chăn nuôi tại xã Yên Nam, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam năm 2019. Nghiên cứu thực hiện trên 139 đối tượng, sử dụng bộ câu hỏi và thang điểm để đánh giá kiến thức, thái độ, thực hành và lấy mẫu phân để xác định tình trạng nhiễm của người tham gia nghiên cứu. Kết quả cho thấy người làm việc ở trang trại có quy mô vừa có thái độ tốt thấp hơn 70% so với nhóm làm việc ở trang trại có quy mô nông hộ. Nhóm ở trang trại nhỏ và vừa sử dụng KS gấp 11,3 lần so với nhóm nông hộ. Nhóm ở trang trại chỉ nuôi gà sử dụng KS gấp 31,9 lần so với nhóm ở trang trại chỉ nuôi lợn. Người có thái độ đúng về vấn đề KKS (cho rằng KKS có xảy ra trong chăn nuôi) có khả năng nhiễm thấp hơn 82% tới 84% so với những người có thái độ chưa đúng về vấn đề này. Kết quả cho thấy người làm việc ở quy mô chăn nuôi càng lớn càng cần được nâng cao kiến thức và thái độ nhằm tăng cường các thực hành tốt trong sử dụng kháng sinh và hạn chế tình trạng nhiễm vi khuẩn kháng thuốc trên người.
Nghiên cứu cắt ngang nhằm mô tả thực trạng nhiễm HBV ở phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ từ 18 - 49 tuổi tạikhu vực Tây Bắc năm 2018. Nghiên cứu được thực hiện trên 1.064 phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ từ 18 - 49 tuổi tại khu vực Tây Bắc bao gồm 4 tỉnh Hoà Bình, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu từ tháng 9/2018 đến tháng 3/2019. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ hiện nhiễm HBV (tỉ lệ HBsAg dương tính) trên phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ từ 18 - 49 tuổi ở khu vực Tây Bắc là 10,7%, trong khi đó, tỉ lệ từng nhiễm HBV (tỉ lệ anti - HBc dương tính) là 53,6%. Tỉ lệ hiện nhiễm HBV ở Hòa Bình (13,0%), Sơn La (12,0%) cao hơn so với Lai Châu (8,8%), Điện Biên (8,9%); ở nhóm dân tộc Dao, Khơ Mú là 18,2%, cao hơn so với các nhóm dân tộc khác (trên dưới 10%); và tiền sử gia đình mắc bệnh gan, tiền sử mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục và tình trạng mang thai là là những yếu tố liên quan đến tỉ lệ hiện nhiễm HBV cao. Tỉ lệ hiện nhiễm HBV ở phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ tại khu vực Tây Bắc ở mức cao và cần có thêm các nghiên cứu phân tích để xác định yếu tố nguy cơ nhằm đưa ra biện pháp can thiệp phù hợp.
Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện nhằm mô tả kiến thức, thái độ và thực hành liên quan đến kháng sinh và kháng kháng sinh trong chăn nuôi ở người làm chăn nuôi và một số yếu tố liên quan tại xã Yên Nam, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam năm 2019. Nghiên cứu thực hiện trên 139 đối tượng, sử dụng bộ câu hỏi và thang điểm để đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành của người tham gia nghiên cứu. Kết quả cho thấy 63,3% đối tượng nghiên cứu cho rằng kháng sinh có tác dụng phòng bệnh cho vật nuôi, 40,3% cho rằng kháng kháng sinh không xảy ra trong chăn nuôi hoặc không chắc chắn về điều này, 81,2% sử dụng kháng sinh với mục đích phòng bệnh cho vật nuôi. Người từ 41 – 50 tuổi có kiến thức tốt nhất; người có trình độ học vấn từ trung học phổ thông trở lên có thái độ tốt nhất. Thu nhập là yếu tố có mối liên quan hai chiều với các yếu tố kiến thức, thái độ và thực hành. Tăng một điểm kiến thức làm tăng 92% khả năng sử dụng kháng sinh theo đúng nguồn hướng dẫn. Tăng một điểm thái độ làm giảm 31% khả năng sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi. Kết quả nghiên cứu cho thấy cần nâng cao kiến thức và thái độ của người làm chăn nuôi nhằm tăng cường các thực hành tốt trong sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi.
In this paper, the success of delivering an online student mobility program at X University, one of Vietnam's top private educational institutions, is evaluated. A case study research approach was used to examine the concept, delivery method, and post-program evaluation of an online English program for Japanese students provided by X University's globalization department. The student satisfaction survey was analyzed based on the critical success factors of online learning in order to identify the program's strengths and weaknesses. From there, future opportunities to improve such programs are determined. Although this study is limited from the perspective of X University and online language training in student mobility, it provides a good example of the application and implementation of online components in a student mobility program. The study's results contribute to the quality of future virtual mobility programs in the studied institution and provide an initial benchmark for those of similar sizes and conditions to promote their own online student mobility adoptions.
Các vụ dịch sởi gần đây cho thấy sự tăng tỷ lệ mắc sởi ở trẻ dưới 9 tháng tuổi, là nhóm trẻ chưa đến lịch tiêm mũi vắc xin sởi đầu tiên. Nghiên cứu can thiệp trên 1.235 phụ nữ từ 18 - 30 tuổi tại 25 xã, thị trấn huyện Ba Vì, Hà Nội bằng tiêm phòng sởi cho 952 phụ nữ và phòng cúm cho 283 phụ nữ nhằm đánh giá hiệu quả phòng bệnh sởi cho trẻ dưới 9 tháng tuổi. Chỉ số đánh giá hiệu quả là nồng độ kháng thể trung hòa vi rút sởi trong huyết thanh đạt mức bảo vệ phòng bệnh sởi của trẻ tại các thời điểm khi sinh, 3, 6, 9 tháng tuổi. Kết quả cho thấy không có sự khác biệt về tỷ lệ có kháng thể trung hòa vi rút sởi, tỷ lệ được bảo vệ phòng bệnh sởi ở trẻ tại thời điểm 3, 6, 9 tháng tuổi giữa nhóm can thiệp và nhóm đối chứng. Ở cả 2 nhóm nghiên cứu, tỷ lệ có kháng thể ở mức đủ phòng bệnh sởi ở trẻ 3 tháng tuổi giảm rất nhanh, khoảng 4 lần so với khi sinh còn khoảng 17%, tiếp tục giảm đến thời điểm 6 tháng là 7,2% và 9 tháng là 2,9%. Nhìn chung, chưa có đủ bằng chứng về hiệu quả tiêm vắc xin sởi cho phụ nữ trước khi mang thai trong dự phòng bệnh sởi cho trẻ dưới 9 tháng tuổi.